|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/HS-ST
Ngày: 18- 6- 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Bản;
Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Tuấn Dũng, ông Nguyễn Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2025/TLST-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Minh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/03/1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Chính quyền, đoàn thể): Không; H và tên bố: Chu Văn T1, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Vũ Thị T2, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2025 đến ngày 14/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 40 phút ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh T bắt quả tang Chu Minh T, sinh năm 1993, trú tại xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên về hành vi vận chuyển hàng cấm, thu giữ trong cốp xe ô tô Honda Civic BKS 20L – 2288 do Chu Minh T điều khiển 01 bao tải dứa màu trắng, bên trong có chứa 06 khối hình hộp, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, ghi nhiều chữ nước ngoài nghi là pháo hoa nổ, loại dàn 36 quả (Niêm phong ký hiệu H1). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ (niêm phong ký hiệu H2) và 01 xe ô tô Honda Civic BKS 20L-2288 kèm 01 giấy đăng ký xe ô tô số 002770 do Phòng C Công an tỉnh T cấp ngày 31/03/2008 mang tên Phạm Triều D. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở để làm việc.
Hồi 8 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong H1 cân tổng 06 khối hộp có khối lượng 8,7 kg, lấy toàn bộ 06 khối hình hộp niêm phong A1 gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 165/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 06 khối hình hộp có cùng đặc điểm kích thước (14,5x14,5x14,5 cm) bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi vật có 36 ống hình trụ bằng giấy màu nâu dài 14cm, đường kính 2,3cm trong niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là pháo nổ (Pháo hoa nổ).
Hồi 9 giờ 30 phút ngày 07 tháng 01 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Minh T tại xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên nhưng không thu giữ được gì.
Hồi 14 giờ 20 phút ngày 07 tháng 01 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong kiểm tra chiếc điện thoại Iphone 11 thu giữ của T được niêm phong trong bì H2, kết quả: Có nhiều nội dung liên quan đến việc phạm tội của Chu Minh T.
Quá trình điều tra bị cáo Chu Minh T khai nhận như sau:
Bản thân biết rõ pháo hoa nổ là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển nhưng do bản thân có nhu cầu mua về để sử dụng trong dịp Tết Nguyên Đán nên ngày 28 tháng 12 năm 2024, Chu Minh T tìm hiểu qua mạng xã hội Facebook thấy tài khoản là “Đồ chơi tết” có rao bán pháo hoa nổ Trung Quốc, có kèm theo số điện thoại 0566.187.xxx để liên lạc. T đã sử dụng điện thoại di động có sim số 0963898261 để liên lạc với số điện thoại trên hỏi mua pháo và được người này giới thiệu tên là T3, không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, có bán pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất với giá 400.000 đồng/một giàn. T đồng ý mua 06 giàn với tổng số tiền 2.400.000 đồng. Khoảng 19 giờ 30 phút tối ngày 06/01/2025, T một mình điều khiển xe ô tô Honda Civic BKS 20L-2288, là xe của ông Chu Văn T1, bố đẻ của T, sinh năm 1968, trú tại xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, từ nhà đến khu vực xã B, thành phố S để mua pháo. Khi đến nơi, T liên lạc với T3 được hướng dẫn đi vào một đường ngõ tối. T gặp T3 và đưa số tiền 2.400.000 đồng còn T3 đưa cho T 01 bao tải dứa. T biết là có 06 giàn pháo hoa nổ của Trung Quốc bên trong nhưng không kiểm tra rồi để bao tải ở phía ghế sau xe ô tô rồi điều khiển xe ô tô vận chuyển về nhà thì bị bắt quả tang.
Vật chứng vụ án:
- 06 giàn pháo hoa nổ. Hiện đã giám định hết.
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, vỏ màu đỏ có gắn sim số 0963898261 và 01 bao tải dứa màu trắng, có in chữ “Dachan- Thức ăn hỗn hợp lợn”. Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.
- 01 chiếc xe ô tô Honda Civic BKS 20L – 2288 đã qua sử dụng và 01 Giấy đăng ký xe ô tô số 002770 do Phòng C Công an tỉnh T cấp ngày 31/3/2008 mang tên Phạm Triều D. Hiện đã được trả lại cho ông Chu Văn T1 quản lý và sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 38/CT- VKSTN ngày 04/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Chu Minh T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự .
Với các tài liệu cơ quan Điều tra thu thập thể hiện bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác đã thu thập được.
Phần luận tội tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát sau khi trình bày tóm tắt nội dung vụ án; đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
Tuyên bố: Bị cáo Chu Minh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Vỏ bao tải dứa màu trắng được niêm phong cần tịch thu tiêu hủy theo đúng quy định.
Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có tranh luận với luận tội của đại diện viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình khám xét, thu giữ, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra tài liệu khác có trong hồ sơ cũng như diễn biến tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Do nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất để đốt trong dịp Tết Nguyên Đán, ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại khu vực xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Chu Minh T đã mua 06 giàn pháo hoa được giám định là pháo nổ (Pháo hoa nổ) có tổng khối lượng 8,7 kilôgam của một người không quen biết sau đó sử dụng xe ô tô Honda Civic BKS 20L - 2288 để vận chuyển số pháo nổ về nhà thì bị bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo xác định đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều 191 Tội tàng trữ hàng cấm
“1. Người nào tàng trữ ... hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, ...
c. P nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý hàng cấm nói chung cũng như quản lý pháo nổ nói riêng.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình tố tụng bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ông nội của bị cáo ông Chu Sỹ D1 được nhà nước tặng thưởng huân huy chương, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo không nhằm mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Vỏ bao tải dứa màu trắng đựng số pháo thu của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 xác định là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét lời đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát về tội danh phần hình phạt chính, xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ chấp nhận.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
[9] Liên quan trong vụ án quá trình điều tra bị cáo khai bản thân biết rõ pháo hoa nổ là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển nhưng do bản thân có nhu cầu mua về để sử dụng trong dịp Tết Nguyên Đán nên ngày 28 tháng 12 năm 2024, Chu Minh T tìm hiểu qua mạng xã hội Facebook thấy tài khoản là “Đồ chơi tết” có rao bán pháo hoa nổ Trung Quốc, có kèm theo số điện thoại 0566.187.xxx để liên lạc. T đã sử dụng điện thoại di động có sim số 0963898261 để liên lạc với số điện thoại trên hỏi mua pháo và được người này giới thiệu tên là T3, không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, có bán pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất với giá 400.000 đồng/một giàn. T đồng ý mua 06 giàn với tổng số tiền 2.400.000 đồng. Khoảng 19 giờ 30 phút tối ngày 06/01/2025, T một mình điều khiển xe ô tô Honda Civic BKS 20L-2288, là xe của ông Chu Văn T1, bố đẻ của T, sinh năm 1968, trú tại xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, từ nhà đến khu vực xã B, thành phố S để mua pháo. Khi đến nơi, T liên lạc với T3 được hướng dẫn đi vào một đường ngõ tối. T gặp T3 và đưa số tiền 2.400.000 đồng còn T3 đưa cho T 01 bao tải dứa. T biết là có 06 giàn pháo hoa nổ của Trung Quốc bên trong nhưng không kiểm tra rồi để bao tải ở phía ghế sau xe ô tô rồi điều khiển xe ô tô vận chuyển về nhà thì bị bắt quả tang. Đối với T3 cơ quan Điều tra xác minh làm rõ xử lý sau khi có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Chu Minh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Minh T cho Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giáo dục và Công an xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1 Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bao tải dứa màu trắng có in chữ "Danchan- Thức ăn hỗn hợp cho lợn" màu đỏ.
3.2 Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Chu Minh T được niêm phong trong bì ký hiệu A2 trên mép dán có chữ ký của Chu Minh T, các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan CSĐT công an tỉnh T.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng số 68 ngày 06/5/2025 giữa Cơ quan ĐT Công an tỉnh T với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Nguyên)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Chu Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Văn Bản |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Minh T phạm tội Vận chuyển hàng cấm
