|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 17-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Duyên
Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lan Chi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng.
- Thư ký tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Văn D - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng và Đ cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai, theo hình thức trực tuyến, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Ngọc H, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1989 tại Hồ N (Trung Quốc); nơi thường trú: Số A đường N, phường L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: C, tổ dân phố A, phường A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc K và bà Đặng Thị H1; có vợ là Phạm Bích N (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 82/2006/HSST ngày 26/4/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; Tại Bản án số 62/2010/HSST ngày 23/6/2010 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2025, đến ngày 29/7/2025 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Hữu V và ông Nguyễn Quốc H2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 23/7/2025, tại khu vực trước cửa nhà số D Chùa V, phường Đ, thành phố Hải Phòng, Công an phường Đ phát hiện bắt quả tang Lê Ngọc H có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải H 02 túi nilon màu trắng, mỗi túi đều có kích thước: 2cm x 2cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, H khai là ma túy Ketamine mua về để sử dụng. Công an phường Đ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để tiến hành giám định.
Tại Kết luận giám định số 538/KL-KTHS ngày 28/7/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,63 gam, loại Ketamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Lê Ngọc H khai nhận: Do bản thân nghiện ma tuý Ketamine nên khoảng 15 giờ ngày 23/7/2025, Lê Ngọc H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh không mang biển kiểm soát mượn của chị Hoàng Thị T, sinh năm 2001, trú tại: Tổ M, phường K, thành phố Hải Phòng đến khu vực đường T, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý để sử dụng. H mua ma túy Ketamine của một người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng được 02 túi nilon ma túy Ketamine màu trắng, mỗi túi có kích thước 2cm x 2cm. H cất giấu số ma túy trên trong lòng bàn tay phải rồi đi xuống khu vực phường Đ, thành phố Hải Phòng để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi H đi đến trước cửa nhà số D Chùa V, phường Đ, thành phố Hải Phòng thì bị Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số tang vật nói trên.
Lời khai của Lê Ngọc H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô Honda Airblade màu xanh (không mang biển kiểm soát) của chị Hoàng Thị T, do chị T không biết việc H sử dụng phương tiện vào hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chị T là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 phong bì niêm phong số 538MT/PC09 chứa 1,40 gam ma túy hoàn lại sau giám định, chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Hải Phòng chờ xử lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSKV4 ngày 29 tháng 10 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng truy tố Lê Ngọc H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc H khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng truy tố. Bị cáo Lê Ngọc H nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Ngọc H về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Lê Ngọc H từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo H. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 538MT/PC09 chứa 1,40 gam ma túy hoàn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 17 giờ ngày 23/7/2025 tại khu vực trước cửa nhà số D Chùa V, phường Đ, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lê Ngọc H có hành vi cất giữ trái phép 1,63 gam ma túy loại Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lê Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Lượng ma túy mà bị cáo Lê Ngọc H có hành vi cất giấu trái phép là 1,63 gam ma túy loại Ketamine. Do đó, bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về nhân thân:
[4] Bị cáo Lê Ngọc H có 02 tiền án: Tại Bản án số 82/2006/HSST ngày 26/4/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; Tại Bản án số 62/2010/HSST ngày 23/6/2010 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, tuy 02 tiền án đều đã được xoá án tích nhưng phải đánh giá bị cáo có nhân thân xấu.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
[6] Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính:
[7] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an chung và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo cần xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Bị cáo Lê Ngọc H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với 01 xe mô tô Honda Airblade màu xanh (không mang biển kiểm soát) của chị Hoàng Thị T, do chị T không biết việc H sử dụng phương tiện vào hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chị T là chủ sở hữu hợp pháp; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[10] 01 phong bì niêm phong số 538MT/PC09 chứa 1,40 gam ma túy hoàn lại sau giám định. Xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Lê Ngọc H tại đường T, thành phố Hải Phòng do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
- Về án phí:
[12] Bị cáo Lê Ngọc H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[13] Bị cáo Lê Ngọc H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc H 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2025.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 538MT/PC09 chứa 1,40 gam ma túy hoàn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 10 năm 2025 giữa Công an phường Đ, thành phố Hải Phòng và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Lê Ngọc H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Lê Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Hương |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc H-Tàng trữ TPCMT
