TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày: 11/6/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng
- Ông Lê Quốc Ngưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Cường và bà Võ Thị Quỳnh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
Trần Nguyên C, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Số nhà E N, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị Kim T; có vợ là Huỳnh Thị Ngọc L1 và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/8/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản tại Bản án số 92/2020/HS-ST. (Đã được xoá án tích).
Bị cáo bị bắt ngày 11/9/2024 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
Trần Thanh P, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1989 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Số nhà E N, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ chụp hình; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị Kim T; có vợ là Đào Thị Mỹ N (Đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú ngày 11/9/2024 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
Nguyễn Xuân L2, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1993 tại tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Số nhà E N, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (Đã chết) và bà Tăng Thị Hồng L3; có vợ là Nguyễn Thị Bích T1 (Đã ly hôn) và 01 người con; tiền sự: Không.
02 Tiền án:
- Ngày 10/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 09/2019/HS-ST. Ngày 19/7/2020, chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa thi hành xong án phí dân sự và án phí hình sự.
- Ngày 27/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 33/2022/HS-ST. Ngày 22/02/2023, chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa thi hành xong án phí hình sự và nộp tiền thu lợi bất chính.
Nhân thân:
- Ngày 07/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai xử phạt 10 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 25/2017/HS-ST. (Đã được xoá án tích).
- Ngày 16/9/2019, bị Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 11/5/2022, bị Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích
Bị cáo bị bắt ngày 11/9/2024 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đức L, sinh năm 1964; địa chỉ: 5 N, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Xuân L2 về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, khi L2 đang có mặt tại trước số nhà B đường B, tổ A, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Tang vật tạm giữ là 02 gói giấy đựng chất bột màu trắng, Ly khai là ma túy đi bán giúp cho Trần Nguyên C và 01 xe mô tô BKS 81-T5.3691.
Tiến hành khám xét khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Nguyên C thu giữ 03 điện thoại. Cùng ngày 11/9/2024, Trần Xuân P1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đầu thú.
Tại Kết luận giám định số 848/KL-KTHS ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục, bột trong 02 gói giấy được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mẫu giám định) đều là ma túy, loại Heroine (D), tổng khối lượng 0,1809 gam.
Cơ quan điều tra đã chứng minh được hành vi phạm tội của các bị can như sau:
Trần Nguyên C là em trai của Trần Thanh P và cả hai đều quen biết với Nguyễn Xuân L2. Vào đầu tháng 8/2024, để có ma túy sử dụng và bán kiếm lời, Trần Nguyên C liên lạc với đối tượng T2 ở thành phố K, tỉnh Kon Tum (không rõ nhân thân, lai lịch) qua số điện thoại 0368.931.xxx và 0334.915.236 thỏa thuận mua ma túy. Khi thỏa thuận xong việc mua ma túy, đối tượng T2 cung cấp các số tài khoản để Cần chuyển tiền, sau khi nhận được tiền, T2 hướng dẫn C đi dọc tuyến đường P, thành phố K, tỉnh Kon Tum để lấy ma túy tại các địa điểm như gốc cây hoặc trụ điện. Sau khi mang ma túy về nhà, C sử dụng và chia nhỏ ma túy rồi đưa cho Trần Thanh P và Nguyễn Xuân L2 mang đi bán ma túy kiếm lời.
Vào ngày 26/8/2024, C liên lạc hỏi mua ma túy từ T2 và nhờ Lê Hoàng Đ (không rõ nhân thân, lý lịch) chuyển khoản cho T2 2.000.000 đồng vào tài khoản BIDV số 8881222078 tên Nguyễn Hoàng Minh T3. Sau đó, C đi đến thành phố K lấy ma túy rồi mang về nhà cất giấu. Đến ngày 07/9/2024, C đi đến khu vực đường N, thành phố P, tỉnh Gia Lai bán cho H (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.
Ngày 08/9/2024, C tiếp tục liên lạc với T2 và thống nhất mua ma túy, T2 cung cấp cho C số tài khoản chuyển tiền (Cần không nhớ số tài khoản), trên đường đến thành phố K, tỉnh Kon Tum lấy ma túy, C đi vào quán tạp hóa nhờ chuyển người mua hàng chuyển cho T2 2.000.000 đồng (Cần không rõ nhân thân lai lịch người chuyển tiền), khi lấy được ma túy Cần mang về nhà cất giấu. Đến sáng ngày 09/9/2024, Phạm Minh V hỏi mua ma túy, C đồng ý và đưa ma túy cho Trần Thanh P đi bán cho V, do bận việc nên P đã đưa gói ma túy cho Nguyễn Xuân L2 mang ra trước nhà của C ở 57/24/1 Nguyễn Viết X1, thành phố P, tỉnh Gia Lai bán cho V với giá 200.000 đồng rồi mang tiền về đưa cho C.
Đến chiều ngày 10/9/2024, Phạm Minh V và một người tên N1 (không rõ nhân thân lai lịch) tiếp tục hỏi mua ma túy của C, C đưa cho P 02 gói ma túy mang đến khu vực suối H, phường P, thành phố P bán cho Phạm Minh V và N1 mỗi người một gói với giá 200.000 đồng rồi mang tiền về đưa cho C. Cùng ngày, C cùng với P đi đến thành phố K để mua ma túy của T2. Trên đường đi, cả hai vào quán tạp hóa của chị Nguyễn Thị H1 tại xã I, huyện C thì gặp chị Nguyễn Thị Thanh T4 là người đang mua hàng tại quán tạp hóa nên C đưa cho chị T4 3.500.000 đồng rồi nhờ chị T4 chuyển khoản cho T2 vào tài khoản B1 số 8881222078 tên Nguyễn Hoàng Minh T3. Sau đó, theo chỉ dẫn của đối tượng T2, C và P đến thành phố K lấy ma túy mang về nhà cất giấu. Sáng ngày 11/9/2024, đối tượng tên N1 tiếp tục liên hệ Cần để mua 02 gói ma túy, C đưa cho Nguyễn Xuân L2 02 gói ma túy mang đến khu vực suối H, phường P, thành phố P để bán cho N1 nhưng chưa kịp bán thì bị Công an tỉnh G phát hiện bắt quả tang, thu giữ 0,1809 gam ma túy loại Heroine.
Tang, vật chứng vụ án:
- 0,1809 gam ma túy loại Heroine;
- 01 điện thoại di động màu đen hãng NOKIA đã qua sử dụng; 01 điện thoại Redmi màu xanh có Model M1903C3EG đã qua sử dụng; 01 điện thoại Sam sung màu hồng đã qua sử dụng;
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 81T5-3691. Qua điều tra xác định xe mô tô thuộc sỡ hữu của ông Trần Đức L, ông L không biết các bị can sử dụng để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ sỡ hữu.
Tại cáo trạng số 67/CT-VKSGL-P1 ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo Trần Nguyên C và Trần Thanh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Xuân L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Diễn biến tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Nguyên C, Trần Thanh P và Nguyễn Xuân L2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Trần Nguyên C mức án từ 9 năm đến 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Trần Thanh P mức án từ 7 năm đến 8 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2024.
- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L2 mức án từ 8 năm đến 9 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2024.
- Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Trần Nguyên C số tiền 800.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,1809 gam ma túy loại Heroine; Tịch thu sung ngân sách: 01 điện thoại di động màu đen hãng N3 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Redmi màu xanh có Model M1903C3EG đã qua sử dụng; 01 điện thoại Sam sung màu hồng đã qua sử dụng.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với quan điểm về việc bị cáo L2 có “Phạm tội 02 lần trở lên” không: Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai cho rằng bị cáo chưa giao ma tuý, chưa nhận tiền thì bị bắt quả tang nên không áp dụng tình tiết này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 11/9/2024, tại trước số nhà B đường B, tổ A, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G bắt quả tang Nguyễn Xuân L2 về hành vi mua bán 02 gói giấy đựng chất bột màu trắng, Ly khai là ma túy và đang đi giao cho người mua thì bị bắt.
Tại Kết luận giám định số 848/KL-KTHS ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận: “Chất rắn màu trắng dạng cục, bột trong 02 gói giấy được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mẫu giám định) đều là ma túy, loại Heroine (D), tổng khối lượng 0,1809 gam.”
Quá trình điều tra xác định, từ ngày 26 tháng 8 năm 2024 đến ngày 11 tháng 9 năm 2024, bị cáo Trần Nguyên C đã 03 lần mua ma túy của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch, ở thành phố K, tỉnh Kon Tum về chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho các cá nhân trên địa bàn thành phố P, tỉnh Gia Lai nhằm thu lợi. Khi có người mua ma túy, bị cáo C sẽ tự mình hoặc đưa cho bị cáo Trần Thanh P hoặc bị cáo Nguyễn Xuân L2 đi giao.
Các bị cáo P, L2 đều sử dụng ma tuý, biết Cần mua bán ma tuý nhưng vẫn nhận lời đi giao cho người mua ma tuý để được Cần trả công bằng ma tuý. Trong đó, bị cáo P đã giao 02 lần cho Phạm Minh V và 01 lần cho đối tượng N1, cùng C đi Kon Tum nhận ma tuý về bán; bị cáo L2 đã giao 01 lần cho Phạm Minh V và 01 lần đang đi giao ma tuý cho đối tượng N1 thì bị bắt quả tang nêu trên.
Các bị cáo Trần Nguyên C và Trần Thanh P nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Đối với bị cáo Nguyễn Xuân L2, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Ngoài ra, bị cáo L2 01 lần giao ma tuý cho Phạm Minh V và 01 lần đang đi giao ma tuý cho đối tượng N1 thì bị bắt quả tang nên lần đi giao ma tuý này thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần áp dụng thêm tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự mới xem xét hết hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây nguy hiểm cho xã hội.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thanh P đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt: Xét bị cáo C giữ vai trò khởi xướng, thực hành tích cực, trực tiếp liên hệ mua, đi nhận và liên hệ bán ma tuý cho các đối tượng, lôi kéo các bị cáo P và L2 cùng tham gia và hưởng lợi bất chính số tiền 800.000 đồng. Các bị cáo P và L2 là đồng phạm giúp sức tích cực, trong đó, bị cáo P có vai trò cao hơn, cùng bị cáo C đi mua ma túy và 03 lần bán ma túy; bị cáo L2 02 lần đi bán ma túy. Do đó, bị cáo C bị xử mức án nghiêm khắc cao hơn hai bị cáo còn lại. Bị cáo P vai trò cao hơn bị cáo L2, tuy nhiên, bị cáo P lần đầu phạm tội, đầu thú; bị cáo L2 có 02 tiền án thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, bị xét xử với 02 tình tiết định khung tăng nặng nên mức án của bị cáo L2 cao hơn bị cáo P và thấp hơn bị cáo C.
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo C hưởng lợi bất chính số tiền 800.000 đồng nên truy thu sung Ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy đối với 0,1809 gam ma túy loại Heroine.
- Đối với 01 điện thoại di động màu đen hãng N3 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Redmi màu xanh có Model M1903C3EG đã qua sử dụng và 01 điện thoại Samsung màu hồng đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung ngân sách.
Các vấn đề khác:
- Đối với người nam giới tên “T2” là người đã bán ma túy cho Trần Nguyên C, đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tiếp tục điều tra, xác minh. Khi có căn cứ thì xử lý theo quy định.
- Đối với Nguyễn Hoàng Minh T3 là người đứng tên tài khoản ngân hàng B1. Bản thân T3 đã đăng ký mở tài khoản này, nhưng trong thời gian đi làm tại thành phố Hà Nội, T3 đưa số tài khoản cho một người nam giới tên V1 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng, T3 không sử dụng tài khoản này. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Nguyễn Hoàng Minh T3 có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy với Trần Nguyên C nên không đề cập xử lý là có căn cứ.
- Đối với chị Nguyễn Thị Thanh T4 là người giúp Trần Nguyên C chuyển 3.500.000 đồng và Lê Hoàng Đ là người giúp Trần Nguyên C chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Hoàng Minh T3. Chị T4 và anh Đ không biết mục đích của C nhờ chuyển tiền để mua ma túy nên không đề cập xử lý là có căn cứ.
- Đối với Phạm Minh V là người đã mua ma túy từ Trần Nguyên Cần về sử dụng và đã sử dụng hết, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.
- Đối với đối tượng tên H, N1 là người đã mua ma túy của C, L2, P. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G sẽ tiếp tục điều tra, xác minh. Khi có căn cứ thì xử lý theo quy định.
- Đối với ông Trần Đức L là chủ sở hữu của xe mô tô BKS 81T5-3691. Xe mô tô ông L cho C, P và L2 mượn sử dụng đi lại, ông L không biết mục đích các bị can sử dụng để thực hiện hành vi tội phạm nên không đề cập xử lý là có căn cứ.
- Quá trình điều tra Trần Nguyên C khai báo, sau khi Trần Thanh P và Nguyễn Xuân L2 bán giúp ma túy cho C thì C có trả công bằng ma túy cho P và L2. Tuy nhiên, việc P và L2 bán cho người khác hay sử dụng số ma túy này thì C không biết. Do đó, không có căn cứ để xử lý C về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
- Đối với số điện thoại 0368.931.xxx qua điều tra xác định chủ thuê bao là Trương Thị L4; số điện thoại 0334.915.xxx chủ thuê bao là Ngô Thị M. Quá trình điều tra xác định bà Trương Thị L4, Ngô Thị M không biết và không sử dụng số thuê bao trên nên không đề cập xử lý là có căn cứ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Nguyên C, Trần Thanh P và Nguyễn Xuân L2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Nguyên C 9 (C1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2024.
Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L2 8 (T5) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh P 7 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2024.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Truy thu của bị cáo Trần Nguyên C số tiền 800.000đ (T5 trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tich thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Phòng K: mặt trước có dòng chữ “Số 848/PC09 ngày 17/9/2024”, tại các mép dán mặt sau có các dấu hình tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết các ông Hoàng Văn T6, Bùi Sỹ T7 và bà Trần Thu N2;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu đen, không có sim bên trong, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, Model M1903C3EG, không có sim bên trong, đã qua sử dụng (điện thoại không lên nguồn nên không kiểm tra tình trạng bên trong);
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng, không có sim bên trong (điện thoại không lên nguồn nên không kiểm tra tình trạng bên trong).
Các vật nêu trên có đặc điểm ghi tại biên bản giao nhận vật chứng số 78/2025 lập ngày 28/5/2025 giữa Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án:
Các bị cáo Trần Nguyên C, Trần Thanh P và Nguyễn Xuân L2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Hồng |
6. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hồng |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Trần Nguyên C, Trần Thanh P và Nguyễn Xuân L2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
