Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ N

TỈNH T

Bản án số: 45/2025/HS-ST

Ngày 10 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết C

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn D

- Ông Nguyễn Đắc H

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải V – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Q và bà Lê Quỳnh A - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo: Lê Văn L, sinh ngày 11 tháng 7 năm 1990, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: TDP V, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N và bà Lê Thị N1; Có vợ là Lê Thị P và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/6/2013 bị Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (Nay là TAND thị xã Nghi Sơn) tỉnh Thanh Hoá xử phạt 03 (ba) tháng 02 (hai) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 80/2013/HSST. Lê Văn L đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xoá án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 20/01/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Lê Mạnh H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: TDP P, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên toà.
  2. Anh Nguyễn Bá S, sinh năm 1984; Nơi cư trú: TDP T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/01/2025, Lê Văn L, trú tại TDP V, phường H, thị xã N đã có hành vi cho một số cá nhân trên địa bàn thị xã N vay tiền dưới các hình thức tín chấp với lãi suất cao từ 4.000 đồng/triệu/ngày đến 5.000 đồng/triệu/ngày. Người vay trả nợ gốc và lãi vay qua tài khoản số M 5555688868888 của Lê Văn L hoặc trả trực tiếp bằng tiền mặt cho L.

Quá trình điều tra xác định hành vi cho vay lãi nặng với mức lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự của Lê Văn L như sau:

  1. Từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/01/2025, L cho anh Lê Mạnh H ở tổ dân phố P, phường B vay 02 lần tiền với lãi suất cao hơn gấp 5 lần mức lãi xuất cao nhất quy định trong bộ luật dân sự. Cụ thể:
    • Ngày 10/12/2022, L cho anh H vay với số tiền là 37.000.000 đồng, với mức lãi xuất theo thoả thuận là 5000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với mức lãi suất 180%/năm, cao gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thời hạn vay đến ngày 10/6/2024. Tổng số tiền lãi anh H đã phải trả cho L là 99.900.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa L được thu theo quy định là 11.100.000 đồng, số tiền L thu lợi bất chính là 88.800.000 đồng, đến hạn anh H đã trả toàn bộ số tiền lãi cho L, riêng số tiền nợ gốc anh H chưa trả cho L, L và anh H thống nhất chuyển toàn bộ số nợ gốc trên thành gói vay mới, với mức lãi xuất là 4000 đồng/triệu/ngày, thời hạn vay từ ngày 10/6/2024. Ngày 10/6/2024 L cho anh H vay số tiền 37.000.000 đồng nêu trên, với mức lãi suất theo thoả thuận là 4000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với mức lãi suất 129,73%/năm, cao gấp 6,486 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Thời hạn vay đến ngày 10/01/2025. Tổng số tiền lãi anh H phải trả cho L là 28.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đã L được thu theo quy định là 4.316.667 đồng, số tiền L thu lợi bất chính là 23.683.333 đồng. Anh H đã trả cho L 24.000.000 đồng, tương ứng với số

tiền L thu lợi hợp pháp là 3.700.000 đồng và thu lợi bất chính là 20.300.000 đồng. Đến nay anh H đã trả toàn bộ số tiền gốc cho L.

  1. Ngày 08/3/2023, L cho anh Nguyễn Bá S ở tổ dân phố T, phường H, thị xã N vay với số tiền là 4.000.000 đồng, với mức lãi suất theo thoả thuận là 5000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với mức lãi xuất 180%/năm, cao gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thời hạn vay đến ngày 08/10/2024. Tổng số tiền lãi anh S phải trả cho L là 11.400.000 đồng, trong đó số tiền lãi L được thu theo quy định là 1.266.667 đồng, số tiền L thu lợi bất chính là 10.133.333 đồng. Đến hạn anh S đã trả toàn bộ số tiền gốc và lãi vay cho L.

Ngoài những lần vay trên, quá trình điều tra còn xác định L cho anh S vay 03 lần khác, các khoản vay đều có mức lãi xuất cao hơn 5 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự, nhưng số tiền thu lợi bất chính từ các khoản vay này đều dưới 30.000.000 đồng và tính đến thời điểm phát hiện hành vi cho vay nặng lãi của Lê Văn L đều hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không xem xét xử lý.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/01/2025, L đã cho anh Lê Mạnh H và anh Nguyễn Bá S vay 03 lần tiền với mức lãi suất thoả thuận từ 4000 đồng đến 5000 đồng/triệu/ngày tương ứng với mức lãi suất từ 129,73% năm đến 180% năm cao gấp 6,486 đến 9 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Tổng số tiền L sử dụng cho vay là 41.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi người vay trả cho L là 139.300.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa L được thu theo quy định là 16.683.333 đồng và số tiền L thu lợi bất chính là 122.616.667 đồng. Đến nay người vay đã trả cho L 135.300.000 đồng tiền lãi, trong đó số tiền lãi tối đa L được được thu theo quy định là 16.066.667 đồng và số tiền L thu lợi bất chính là 119.233.333 đồng. Toàn bộ số tiền gốc anh H và anh S đã thanh toán hết cho L.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, màu xanh đen, imei: 357301904779817, imei 2: 357371924779816, bên trong lắp sim số 0969.579.101 đã qua sử dụng, hoạt động bình thường (do Lê Văn L giao nộp)

Kết quả giám định điện thoại, tại Bản kết luận giám định số 894/KL-KTHS ngày 18 tháng 2 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Tìm thấy 220 (hai trăm hai mươi) cuộc gọi, 97 (chín bảy) tin nhắn Messege, 531 (năm trăm ba mốt) tin nhắn zalo – Thể hiện trong phụ lục.
  • Không trích xuất được tin nhắn Facebook – Do không có đủ năng lực điều kiện cần thiết cho việc thực hiện giám định.

Kèm theo kết luận giám định có: 01 Phuluc.rar có dung lượng 16.2MB lưu trong 01 USB.

Sau khi phục vụ công tác giám định, 01 điện thoại di dộng trên hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSNS, ngày 10/03/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 35, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự, tuyên bố Lê Văn L, phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bổ sung Lê Văn L 30.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu xung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, màu xanh đen.
  • Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo sử dụng cho vay là: 41.000.000 đồng.
  • Số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ những người vay, bị cáo đã tự nguyện trả lại cho những người vay, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
  • Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền bị cáo thu lợi bất chính phát sinh từ tội phạm (khoản tiền tương ứng với lãi suất 20%/năm) là 16.066.667 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của phạm tội của mình; Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/01/2025, Lê Văn L đã cho 02 cá nhân gồm anh Lê Mạnh H, sinh năm 1984 ở tổ dân phố P, phường B, thị xã N và anh Nguyễn Bá S, sinh năm 1984 ở tổ dân phố T, phường H, thị xã N vay 03 lần tiền, tổng cộng số tiền sử dụng cho vay là 41.000.000 đồng, với mức lãi suất từ 129,73% đến 180%/năm, cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, qua đó thu lợi bất chính số tiền là 119.233.333 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tính chất của vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tự nguyện trả lại toàn bộ khoản tiền thu lợi bất chính cho những người vay tiền là anh Lê Mạnh H và anh Nguyễn Bá S, anh H và anh S có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, khi biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện bị cáo đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hoá đầu thú. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, vào năm 2013 đã bị xử phạt 03 tháng 02 ngày tù về tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên sau khi chấp hành xong bản án bị cáo về địa phương đến trước khi phạm tội lần này luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật và quy định của địa phương nơi bị cáo cư trú, bên cạnh đó bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi bất chính, nên áp dụng khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 201 xử phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

[7] Xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A15, màu xanh đen là công cụ phạm tội nên tịch thu phát mại xung ngân sách nhà nước.
  • Số tiền bị cáo sử dụng cho vay là: 41.000.000 đồng là phương tiện phạm tội, những người vay là anh Lê Mạnh H và anh Nguyễn Bá S đã trả toàn bộ tiền gốc vay cho bị cáo, nên truy thu từ bị cáo số tiền 41.000.000 đồng để xung vào ngân sách nhà nước.
  • Số tiền bị cáo thu lợi bất chính trên mức lãi suất 20%/năm từ những người vay, trong thời gian chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện trả lại toàn bộ khoản tiền thu lợi bất

chính cho những người vay tiền là anh Lê Mạnh H và anh Nguyễn Bá S, anh H và anh S không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, nên không xem xét.

  • Số tiền bị cáo thu lợi phát sinh từ tội phạm (khoản tiền tương ứng với lãi suất 20%/năm) là 16.066.667 đồng cần truy thu của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 35 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Lê Văn L, phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
  2. Xử phạt: Lê Văn L 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 10/4/2025.

    Giao bị cáo cho UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt bổ sung Lê Văn L 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, màu xanh đen, imei: 357301904779817, imei 2 : 357371924779816, bên trong lắp sim số 0969.579.101 đã qua sử dụng.

      (Vật chứng tịch thu có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 49 và Phiếu nhập kho số: NK2025/49 ngày 17/3/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).

    2. Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo sử dụng cho vay là: 41.000.000₫(Bốn mươi mốt triệu đồng).
    1. Truy thu số tiền bị cáo thu lợi phát sinh từ tội phạm sung vào ngân sách nhà nước (khoản tiền tương ứng với lãi suất 20%/năm) là 16.066.667₫(Mười sáu triệu, không trăm sáu sáu nghìn,sáu trăm sáu bảy đồng).
  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
  2. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T;
  • - VKSND tỉnh T;
  • - VKSND thị xã N;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ:
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Viết C

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH T về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 45/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH T
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: Khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 35 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Lê Văn Linh, phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. 2. Xử phạt: Lê Văn Linh 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 10/4/2025. Giao bị cáo cho UBND phường Hải Hoà, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Xử phạt bổ sung Lê Văn Linh 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước. 3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. 3.1. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, màu xanh đen, imei: 357301904779817, imei 2 : 357371924779816, bên trong lắp sim số 0969.579.101 đã qua sử dụng. (Vật chứng tịch thu có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 49 và Phiếu nhập kho số: NK2025/49 ngày 17/3/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn). 3.2. Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo sử dụng cho vay là: 41.000.000đ(Bốn mươi mốt triệu đồng). 3.3. Truy thu số tiền bị cáo thu lợi phát sinh từ tội phạm sung vào ngân sách nhà nước (khoản tiền tương ứng với lãi suất 20%/năm) là 16.066.667đ(Mười sáu triệu, không trăm sáu sáu nghìn,sáu trăm sáu bảy đồng). 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. 5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. 6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger