Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST
Ngày 03 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lâm Thuận Tùng

Thẩm phán: ông Phạm Tấn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Tô Minh Lắm, ông Đỗ Nguyễn Văn Duy Linh và ông Trần Minh Tâm.

Thư ký phiên toà: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hường và ông Lê Tú Giang - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 46/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Sơn Trí H, sinh ngày 14/01/1994 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông: Sơn H1 và bà Lý Thị Si N; vợ là Nguyễn Thị Cẩm N1, có 02 người con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Sơn Trí H bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

  • * Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Sơn Trí H: Luật sư Nguyễn Đức K – Đoàn Luật sư tỉnh A – Văn phòng Luật sư Nguyễn Đức K; địa chỉ: số B L, phường M, thành phố L, An Giang. (có mặt)
  • * Bị hại: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày: 24/3/2001; nơi cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Sơn H1, sinh năm: 1968 bà Lý Thị Sy N2, sinh năm: 1969; cùng cư trú: Ấp C, Xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
  • * Người làm chứng:
  • Dương Thị H2, sinh năm: 1973 (có mặt);
  • Nguyễn Thanh K1, sinh năm: 1970 (có mặt).

Cùng cư trú: Khóm Long An B, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

  • Phạm Văn P, sinh năm: 1986 (có mặt);
  • Nguyễn Văn V, sinh năm: 1995 (có mặt);
  • Nguyễn Thị N3, sinh năm: 1977 (vắng mặt);
  • Nguyễn Thị Cẩm N1, sinh năm: 1996 (có mặt).

Cùng cư trú: Tổ 13, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2022, Sơn Trí H kết hôn với Nguyễn Thị Cẩm N1 và sống chung nhà với ông Nguyễn Văn H3 thuộc tổ 13, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (cha của N1), cùng Nguyễn Hoàng T (em của N1).

Khoảng 19 giờ, ngày 22/11/2024, H đang hướng dẫn Dương Thị H2 cách trộn lúa giống thì nghe Trọng chê H không biết làm mà còn chỉ người khác nên cả hai phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau. H tức giận đi đến chỗ để củi, lấy cây dao (loại dao tầm bức, có 01 bề sắc bén, chiều dài 38cm, trong đó, phần cán dài 12cm, phần lưỡi dao dài 26cm; nơi rộng nhất của lưỡi dao là 07cm, hẹp nhất là 03cm) cầm trên tay, đi đến chỗ T. Lúc này, T đang đứng quay lưng về phía H thì bất ngờ bị H cầm dao chém từ trên xuống 02 nhát trúng vào vùng đầu của T. Bị chém, T quay lại giật con dao trên tay H, nhưng không giật được nên bị H tiếp tục cầm dao chém thêm 02 cái trúng vào đầu, nên T bỏ chạy được khoảng 05 đến 10 mét thì bị vấp ngã. H cầm dao đuổi theo chém trúng lưng T 02 – 03 nhát. T ngồi dậy bỏ chạy lên đường, rồi chạy về hướng C, H rượt theo T tới đầu đường khoảng 20 mét thì được Phạm Văn P cùng một số người can ngăn. H quay lại đi vào nhà, cất giấu dao vào thùng gỗ cặp tủ lạnh, tại nhà bếp. Xong, H lấy quần áo, điều khiển xe mô tô biển số: 94C1-117.25 bỏ trốn đến thị xã B, tỉnh Bình Dương. Riêng, T được N1 đưa đến bệnh viện Đ cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy - Thành phố H điều trị tiếp, đến ngày 26/11/2024 ra riện. Ngày 25/11/2024, H bị khởi tố, điều tra.

* Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 791/24/KLTTCT-TTPY ngày 26/11/2024 và số 791BS/24/KLTTCT-TTPY ngày 03/01/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2001:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Sẹo đính sau bên trái, kích thước (07 x 0.3) cm, sẹo lõm, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 02%. Gây nứt sọ vùng đỉnh trái tương ứng với vết sẹo bên ngoài, tỷ lệ là 10%. Tổng tỷ lệ là 12%. Do vật sắc gây nên (tỷ lệ này đã cho tại bản kết luận số 791/24/KLTTCT-TTPY ngày 26/11/2024).
  • Sẹo thái dương - chẩm trái, kích thước (12 x 0.3) cm, sẹo lồi lõm, hồng, bờ sắc, tỷ lệ là 02%. Gây nứt sọ vùng thái dương chẩm trái tương ứng với vết sẹo bên ngoài, tỷ lệ là 10%. Tổng tỷ lệ là 12%. Do vật sắc gây nên.
  • Sẹo chẩm trái, kích thước (4.5 x 0.3) cm, sẹo lồi lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 02%. Do vật sắc gây nên.
  • Sẹo thái dương trái, kích thước (02 x 0,1) cm, sẹo lồi lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.
  • Sẹo đuôi mắt phải, kích thước (03 x 0.1) cm, sẹo lồi lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 03%. Do vật sắc gây nên.
  • Sẹo cổ sau bên trái, nằm xiên, kích thước (2.5 x 0.1) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 02%. Do vật sắc gây nên.
  • Sẹo vai trái, kích thước (06 x 0,1) cm, sẹo phẳng, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 02%. Do vật sắc gây nên.
  • 03 (ba) sẹo bả vai trái, nằm xiên, sẹo hơi lõm, hồng, bờ sắc, đều do vật sắc gây nên.
    • + Vết 01: kích thước (22 x 0.3) cm. Tỷ lệ là 02%.
    • + Vết 02: kích thước (15 x 0.6) cm. Tỷ lệ là 03%.
    • + Vết 03: kích thước (05 x 0.2) cm. Tỷ lệ là 02%.
  • Sây sát da dạng thẳng không liên tục từ lưng phải qua lưng trái để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (04 x 0.1) cm + (03 x 0.1) cm. Tỷ lệ là 0.5%. Do vật sắc gây nên.
  • Sây sát da dạng mảng mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải để lại sẹo, kích thước (03 x 01) cm. Tỷ lệ là 01%. Do vật tày có bề mặt không nhẫn gây nên.
  • Sẹo mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái, kích thước (02 x 0.2) cm, sẹo lồi, hồng. Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.
  • Sưng bầm mặt trước gối phải hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
  • Sây sát da mặt trước gối trái để lại sẹo, kích thước (01 x 0.3) cm, sẹo lồi, hồng, bờ không sắc. Tỷ lệ là 01%. Do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên.
  • Sẹo mặt lưng đốt 1 ngón II bàn chân phải, kích thước (01 x 0.3) cm, sẹo lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.
  • Sẹo mặt lưng đốt 1 ngón III bàn chân phải, kích thước (0.8 x 0.2) cm, sẹo lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.
  • Sẹo mặt lưng đốt 1 ngón IV bàn chân phải, kích thước (0.6 x 0.1) cm, sẹo lõm, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.

2. Kết luận:

  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định bổ sung tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng T, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là 30%.
  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại bản kết luận số 791/24/KLTTCT-TTPY ngày 26/11/2024 là 12%.
  • Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 791/24/KLTTCT-TTPY ngày 26/11/2024 và kết quả giám định bổ sung nêu trên, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng T (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là 38%.

* Bản kết luận giám định số 1822/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh A, kết luận:

  • Vết màu nâu thu trên con dao thu tại hiện trường tại vị trí số 2 là máu người, thuộc nhóm máu O.
  • Vết màu nâu thu tại hiện trường tại vị trí số 3 là máu người, thuộc nhóm máu O.
  • Máu của Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2001 thuộc nhóm máu O.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 cây dao bằng kim loại (loại dao tầm bức) có 01 bề sắc bén, tổng chiều dài 38 cm (trong đó phần cán dao dài 12 cm, phần lưỡi dao dài 26 cm), nơi rộng nhất của lưỡi dao dài 07 cm, nơi hẹp nhất của lưỡi dao dài 03 cm. Trọng lượng 660 gram, đã qua sử dụng.
  • 01 đôi dép màu xanh, đã qua sử dụng; 01 cái áo màu nâu, đã qua sử dụng và một số mẫu máu thu tại hiện trường.
  • 01 (một) vết màu nâu thu trên cây dao ở vị trí số 2 tại hiện trường.
  • 01 (một) vết màu nâu thu ở vị trí số 3 tại hiện trường.
  • 01 (một) mẫu máu thu của bị hại Nguyễn Hoàng T.

* Lời khai bị hại Nguyễn Hoàng T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan S, Lý Thị Sy N2 (cha, mẹ của H); lời khai người làm chứng Dương Thị H2, Phạm Văn P, Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Thị Cẩm N1 trình bày như nội dung vụ án. Sau khi vụ án xảy ra, H1 và Sy N2 đã nộp khắc phục hậu quả cho H 2.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Sơn Trí H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại T yêu cầu H bồi thường chi phí điều trị và tổn thất tinh thần là 150.000.000 đồng. Phía gia đình bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả thêm số tiền 10.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 44/CT-VKSAG-P2 ngày 01/4/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn T1 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Sơn Trí H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Sơn Trí H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với phần trách nhiệm dân sự bị cáo Sơn Trí H đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại Nguyễn Hoàng T số tiền là 88.000.000 đồng, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo sẽ bồi thường sau.

Bị hại Nguyễn Hoàng T khai sự việc như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Về phần trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo H phải bồi thường tổng số tiền là 88.000.000đ. Ngoài ra không yêu cầu bồi thường thêm gì khác.

Người làm chứng có mặt khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sơn Trí H từ 12 đến 14 năm tù về tội “Giết người”. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 cây dao và hộp đựng dao đã thu giữ. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Sơn Trí H phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoàng T số tiền 88.000.000đ.

Người bào chữa đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Sơn Trí H về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Bị cáo H nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Lời cuối cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại không có ý kiến tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 19 giờ, ngày 22/11/2024, tại nhà ông Nguyễn Văn H3, thuộc tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo Sơn Trí H đã có hành vi dung dao sắc, loại dao tầm bức, chiều dài 38 cm (trong đó phần cán dao dài 12 cm, phần lưỡi dao dài 26 cm) chém nhiều nhát vào vùng đầu, cổ lung của bị hại Nguyễn Hoàng T, mục đích nhằm giết chết bị hại. Hậu quả làm bị hại T bị vết thương nứt sọ vùng thái dương chẩm trái, nứt sọ vùng thái dương đỉnh trái, Tổn thương cơ thể do thương tật gây nên là 38%, bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Sơn Trí H đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt không đáng, bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm chém vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến phạm tội. Trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án tiền sự, nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm giết chết bị hại, bị hại không chết là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý chí chủ quan của bị cáo.

Mặt khác, tội phạm được thực hiện một cách quyết liệt, thể hiện tính côn đồ hung hãn, trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm chém từ phía sau lúc bị hại không phòng bị gì. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, quá trình điều tra và trước khi mở phiên tòa, gia đình của bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng.

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng 1 tình tiết giảm nhẹ mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, tỷ lệ thương tích của bị hại là 38%. Tuy nhiên, tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[4] Đối với hành vi giết người, do hậu quả chết người chưa xảy ra vì nguyên nhân khách quan nên bị cáo được áp dụng đường lối xử lý phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, hình phạt chính là phạt tù đã nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Bị cáo có hành vi dùng dao tầm bức tấn công bị hại thời điểm xảy ra trước ngày 01/01/2025 nên Cơ quan điều tra không trưng cầu giám định để xử lý hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, tổng số tiền bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm là 100.000.000đ, sự thỏa thuận trên là tự nguyên, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Gia đình bị cáo đã nộp 12.000.000 đồng. Số còn lại 88.000.000 đồng bị cáo có trách nhiệm tiếp tục bồi thường.

[8] Về vật chứng: Đối với cây dao và áo quần dính máu đã thu giữ trong quá trình điều tra không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Sơn T2 H phạm tội “Giết người (chưa đạt)”.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Sơn Trí H (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 25/11/2024).

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585, 591; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, bị cáo Sơn Trí H phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho bị hại Nguyễn Hoàng T số tiền 88.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Hoàng T được nhận lại số tiền 2.000.000 đồng mà người nhà bị cáo đã nộp trong giai đoạn điều tra và 10.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả theo biên lai số 0000356 ngày 26/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao loại tầm bức và áo, quần (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2025).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Sơn Trí H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.400.000đ (Bốn triệu, bốn trăm ngàn đồng) án phí dân sự trong hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
  • - Viện kiêm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa



Lâm Thuận Tùng

Các Hội thẩm nhân dân

Tô Minh LắmĐỗ Nguyễn Văn Duy LinhTrần Minh Tâm
Thẩm phán


Phạm Tấn Tài
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa


Lâm Thuận Tùng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 03/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về giết người (chưa đạt)

  • Số bản án: 45/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (chưa đạt)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger