|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HS-PT Ngày: 24-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
Các Thẩm phán: Ông Bích Văn Nhiên và ông Nguyễn Văn Quản.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 04/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Hoài N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 282/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoài N, sinh ngày 22/9/2003 tại Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1975; Vợ con: không có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 06/01/2022, bị Chủ tịch UBND phường T đưa vào quản lý giáo dục tại xã, phường thị trấn theo Quyết định số 02/QĐ-UBND, ngày 07/04/2022 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài N: Luật sư Nguyễn Văn T – Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).
Ngoài ra còn có các bị cáo Nguyễn Quang V, Trần Quang D, Nguyễn Khánh H không có kháng cáo và không bị kháng nghị (Toà án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/7/2023, Nguyễn Quang V cùng với Nguyễn Khánh H và Trần Quang D ngồi chơi với nhau tại khu vực ngã tư gần nhà của D ở khu phố E, phường T. Tại đây, V, H và D bàn bạc với nhau góp tiền mua cần sa để tối ra khu vực cảng P sử dụng. Sau khi thống nhất xong, V và H góp mỗi người 10.000 đồng, D góp 20.000 đồng. Lúc này, Nguyễn Khánh P (là anh ruột của Nguyễn Hoài N) đi từ trong nhà ra khu vực ngã tư chơi thì gặp V, H, D. Gặp P, V nói đưa 10.000 đồng cho V (không nói mục đích để làm gì) nhưng do P không có tiền nên P đi về nhà. Khi V, H và D góp tiền xong thì V là người giữ tiền. Sau đó, V, H, D đi ra khu vực cảng P để tắm biển. Trên đường đi ra biển V gặp một nam thanh niên (quen ngoài xã hội, không rõ nhân thân) nên nói với nam thanh niên khoảng 19 giờ 30 phút đến phía sau trường Lương Thế V1 (thuộc phường T, thành phố P) mua giùm 50.000 đồng cần sa thì người này đồng ý. Sau đó, V1, H, D đi ra biển tắm. Một lúc sau, Nguyễn Hoài N đi ra biển thì gặp V1, D và H. Lúc này, N đưa cho V1 10.000 đồng để trả nợ cho V1 rồi N ngồi lại chơi một lúc thì đi về. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày V1 cùng với D và H tiếp tục ra khu C để ngồi chơi. V1 thấy N đi ra nên gọi N lại và nói đưa V1 10.000 đồng để mua cần sa về sử dụng, N nói là chưa có tiền rồi N đi về nhà. Một lúc sau N đi ra và đưa cho V1 10.000 đồng mục đích góp tiền mua cần sa, V1 nhận 10.000 đồng từ N đưa rồi bỏ vào chung với 40.000 đồng mà V1, D, H góp trước đó, tổng cộng được 50.000 đồng. Sau đó, V1 đi bộ một mình đến địa điểm đã hẹn để mua cần sa. Đến nơi, V1 đứng đợi khoảng 10 phút thì nam thanh niên V1 nhờ trước đó tới giao cho V1 01 gói cần sa, V1 đưa cho người này 50.000 đồng. Trong lúc V1 đi mua ma túy, N, D, H ngồi ở cảng P chờ. Sau khi mua được cần sa, V1 mang về cảng P. Lúc này H lấy từ trong bụi cây gần chỗ mọi người đang ngồi ra 01 bộ dụng cụ sử dụng cần sa để cả nhóm cùng sử dụng. Khi cả nhóm đang cùng nhau sử dụng thì Nguyễn Khánh P đến chơi. Lúc này, P có cầm bịch bánh mang theo ra để xuống để mọi người cùng ăn. Do là bạn bè với nhau nên V1, N, D, H cho P sử dụng cần sa với mọi người. Khi V1, H, D, N, P đang ngồi sử dụng cần sa thì bị Lực lượng Công an phường T đi tuần tra phát hiện bắt quả tang nên đã mời các đối tượng có liên quan cùng tang vật về trụ sở Công an phường T để làm việc. Tại đây, các đối tượng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng cần sa gồm: 01 chai nhựa không màu có nắp màu vàng, bên hông thân có gắn một ống kim loại màu đỏ. Thu giữ gần vị trí của P ngồi (Cả P1, N, D, H, V1 đều khai nhận đó là bộ D1 sử dụng cần sa).
- - 01 (một) gói nylon không màu, hàn kín, có khóa kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (04 × 07)cm bên trong có chứa thảo mộc khô màu nâu (thu giữ dưới nền bê tông gần vị trí của N ngồi), cả N, D, H, V1 đều khai nhận đó là gói cần sa mà mọi người cùng nhau góp tiền mua về để sử dụng còn sót lại.
Tại bản Kết luận giám định số 865/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,6798 gam là cần sa.
Về xử lý vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 865 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu 3 đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng cần sa gồm: 01 chai nhựa không màu, có nắp màu vàng, bên hông thân có gắn 01 ống kim loại màu đỏ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 282/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:
Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/8/2024.
Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang V, Trần Quang D, Nguyễn Khánh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 04 năm tù, bị cáo Trần Quang D 04 năm tù, bị cáo Nguyễn Khánh H 04 năm tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác về biện pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.
Ngày 02 tháng 01 năm 2025, bị cáo Nguyễn Hoài N kháng cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, Toà án cấp sơ thẩm không làm hết trách nhiệm, làm oan sai đối với bị cáo; bị cáo bị ông Tô Thế M tát nhiều cái vào mặt và buộc bị cáo ký tên vào các biên bản (biên bản ghi nhận sự việc; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ), bị cáo N không góp tiền cùng với nhóm V, H, D mua ma túy về sử dụng và bị cáo N cũng không sử dụng ma túy.
Ngày 12/3/2025, người bào chữa của bị cáo - Luật sư Nguyễn Văn T có Giấy đề nghị triệu tập ông Tô Thế M (chức vụ Phó Trưởng Công an phường T (thời điểm ngày 15/7/2023), ông Nguyễn Quang H1 (cán bộ lập biên bản thời điểm ngày 15/7/2023), ông Đỗ Văn Đ; ông Phạm Võ Phúc T1 (công tác tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B) đến phiên toà phúc thẩm để làm sáng tỏ sự thật khách quan của các biên bản, gồm: Biên bản ghi nhận sự việc hồi 23 giờ 00 phút ngày 15/7/2023; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu hồi 00 giờ 20 phút ngày 16/7/2023; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 00 giờ 40 phút ngày 16/7/2023; biên bản xét nghiệm chất ma tuý vào hồi 02 giờ 55 phút ngày 16/7/2023 và kết quả xét nghiệm ngày 24/7/2023.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm: Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo và ý kiến của người bào chữa tại phiên toà là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 282/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Ý kiến của Luật sư Nguyễn Văn T: Trong vụ án không có biên bản phạm tội quả tang mà chỉ có biên bản ghi nhận sự việc, biên bản ghi nhận sự việc có nội dung nơi lập biên bản không đúng, biên bản được lập tại Công an phường T nhưng thể hiện được lập tại Cảng cá P là không đúng; biên bản xét nghiệm và kết quả xét nghiệm chất ma tuý của bị cáo N là không đúng; ngày 16/7/2023 và ngày 24/7/2023 bị cáo N không được xét nghiệm chất ma tuý; không có căn cứ khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoài N.
- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo không phạm tội, bị cáo không sử dụng ma tuý (cần sa) ngày 15/7/2023, bị cáo chỉ trả nợ Nguyễn Quang V 10.000đồng và không góp 10.000 đồng cho V mua ma tuý để sử dụng.
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Hoài N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại, bị cáo không phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài N nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo về việc cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là làm oan sai đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình xét xử, bị cáo cho rằng ngày 15/7/2023, bị cáo chỉ trả tiền 10.000 đồng bị cáo nợ trước đó cho V, bị cáo không thừa nhận hành vi góp tiền 10.000 đồng cho V để mua ma tuý; không thừa nhận ngày 15/7/2025 bị cáo có sử dụng ma tuý (cần sa);
Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù tại phiên tòa, bị cáo N không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng căn cứ vào các tài liệu ban đầu, bản tường trình của bị cáo, các lời khai tại cơ quan điều tra, các biên bản hỏi cung (BL 89- 100), trong đó có biên bản hỏi cung ngày 11/9/2024 (BL 94) có cả đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết và Luật sư bào chữa cho bị cáo tham gia; biên bản xét nghiệm chất ma tuý, kết quả xét nghiệm; các bị cáo V, D, H tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều khai rõ ràng hành vi của bản thân các bị cáo và hành vi của bị cáo N. Hơn nữa, quá trình thực hiện và lập biên bản ghi nhận sự việc, biên bản xác định hiện trường; các biên bản lấy lời khai, biên bản niêm phong; kết luận trưng cầu giám định... được các cơ quan tiến hành tố tung thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và trong qúa trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan đã đảm bảo cho bị cáo thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của bị cáo theo quy định.
Nhận thấy tại phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm bị cáo N thay đổi lời khai so với lời khai đã khai tại cơ quan điều tra, không thừa nhận hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, cũng như lời bào chữa của người bào chữa về việc bị cáo không sử dụng chất ma tuý, biên bản ghi nhận sự việc, biên bản xét nghiệm chất ma tuý và kết quả xét nghiệm chất ma tuý,... không đúng, bị cáo không góp tiền cho V mua ma tuý, bị cáo không phạm tội tổ chức sử dụng chất ma tuý là không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo V, D, H là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 15/7/2023 tại khu vực cảng P, thuộc phường T, thành phố P, các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Khánh H, Nguyễn Hoài N mỗi bị cáo góp 10.000 đồng, riêng bị cáo Trần Quang D góp 20.000 đồng để bị cáo V đi mua ma túy (cần sa) về sử dụng. Sau khi V mua được ma túy, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (cần sa) cất trong bụi cây (bộ D1 đã có sẵn từ trước) để cùng sử dụng chung. Khi cả nhóm đang cùng nhau sử dụng ma túy (cần sa) thì bị Tổ công tác Công an phường T tuần tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 0,6798 gam cần sa dưới nền bê tông nơi V, D, P1, H, N đang ngồi sử dụng ma túy.
Hành vi góp tiền mua ma túy trên của bị cáo Nguyễn Hoài N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” (bị cáo V, H và D tại thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi) quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoài N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây nguy hiểm cho xã hội nên cần phải được xử lý để bảo đảm tính răn đe và giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy tại cấp sơ thẩm gia đình bị cáo có cung cấp tài liệu ông nội của bị cáo là người có công với đất nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và điều chỉnh bổ sung phần căn cứ áp dụng. Tuy nhiên, xét về mức án, Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 07 năm 06 tháng tù là thỏa đáng, không nặng, đủ để răn đe giáo dục bị cáo và để phòng ngừa tội phạm chung.
Kháng cáo của bị cáo và ý kiến của người bào chữa là không có cơ sở chấp nhận, bị cáo và người bào chữa không cung cấp tài liệu, tình tiết nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của người bào chữa mà giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận là có căn cứ.
Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo N “tính từ ngày tạm giữ 27/8/2024” là không chính xác, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa lại “tính từ ngày tạm giam 27/8/2024” cho phù hợp.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài N không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 282/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27/8/2024.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoài N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/3/2025).
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bình Thuận;THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TA, VKS, Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
- Những người tham gia tố tụng;
- Trại tạm giam Công an tỉnh;
- Phòng PV06 - Công an tỉnh B;
- Lưu: Hồ sơ, TỔ HCTP.
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 45/2025/HS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 45/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
