Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-PT

Ngày: 26 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Được.

Các Thẩm phán: Ông Lâm Bách;

Bà Trần Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 26 - 6 - 2025, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 44/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Hà T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. H, sinh ngày 03/02/1952 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà B (đã chết) và bà Đặng Thị C (đã chết); Có vợ: Võ Thị P và 06 người con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 22/5/2003, H bị Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2007 nhưng bị cáo Hà T chưa nộp tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước theo quyết định của bản án.

Nhân thân: Ngày 23/11/1988, H bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Thuận Hải xử phạt 21 tháng tù về các tội “Đánh bạc”, “Đưa hối lộ và môi giới hối lộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng.

Bị cáo hiện đang tại ngoại.

Xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có bị cáo Võ Thị P, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2009, vợ chồng bị cáo Hà T và bị cáo Võ Thị P khởi kiện vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” với bị đơn bà Bùi Thị P1, sinh năm 1959, nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, TP . - T, tài sản tranh chấp là thửa đất số 23, tờ bản đồ số 11a, diện tích 1.083 m². Vụ án dân sự đã được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Ninh Thuận xét xử (Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DSST ngày 10/11/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T và Bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DS-PT ngày 19/4/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận). Kết quả Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của H và Võ Thị P. Bị áo H và bị cáo Võ Thị P được sử dụng thửa đất số 23, tờ bản đồ 11a, diện tích 1.083m² toạ lạc tại phường Đ, P - T. Tuy nhiên, Tòa án buộc bị cáo Võ Thị P phải trả cho bà P1 70.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng đất và bồi thường cho bà P1 số tiền 506.500.000 đồng số tiền thiệt hại phát sinh do huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tổng cộng bị cáo Võ Thị P phải trả cho bà Bùi Thị P1 số tiền 576.500.000 đồng (Năm trăm bảy mươi sáu triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau đó, Cơ quan thi hành án đã thực hiện thi hành án, do vợ chồng bị cáo Hà T không có tiền trả cho bà P1 nên đã đồng ý tách thửa đất trên làm 02 thửa, cụ thể: Thửa đất số 23, tờ bản đồ 11a, diện tích 441,5m² thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bị cáo Hà T, bị cáo Võ Thị P; Thửa đất số 73, tờ bản đồ số 24, diện tích 603,3m² thuộc quyền sử dụng của bà Bùi Thị P1.

Bị cáo Hà T không đồng ý với Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận nên có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Tối cao xem xét theo trình tự Giám đốc thẩm. Ngày 04/11/2013, Tòa Dân sự Toà án nhân dân Tối cao ban hành Thông báo số 100/TANDTC-DS về việc trả lời đơn đề nghị kháng nghị với nội dung “Không có căn cứ để kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DS-PT ngày 19/4/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận”.

Ngày 22/5/2003, bị cáo Hà T bị Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại TP . xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”, buộc bị cáo Hà T phải nộp 27.000 USD, 55.000.000 đồng và 08 lượng vàng 24K để sung ngân sách nhà nước (Theo Bản án hình sự phúc thẩm số 808/HS-PT ngày 22/5/2003). Quá trình tổ chức thi hành án, bị cáo T chỉ mới thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng, các khoản còn lại bị cáo T không chấp hành. Do đó, Cục thi hành án đã ra Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 11a, diện tích 441,5m² của vợ chồng bị cáo Hà T. Ngày 18/7/2019, Công ty Đ tổ chức bán đấu giá đối với thửa đất trên và bà Phan Thị Hồng V (Sinh năm 1973, trú tại khu phố I, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận) đã trúng đấu giá 713.940.220 đồng. Ngày 21/4/2020, Ủy ban nhân dân thành phố P- T đã ban hành Quyết định số 314/QĐ-UBND về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 11a, diện tích 441,5 m² toạ lạc tại phường Đ, thành phố P - T của bị cáo Hà T và bị cáo Võ Thị P do đất đã kê biên bán đấu giá nhưng không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Không đồng ý với bản án của Tòa án, các quyết định thi hành án dân sự của Cơ quan thi hành án dân sự, quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố P - T đối với các thửa đất trên nên vợ chồng bị cáo Hà T và bị cáo Võ Thị P liên tục gửi đơn có nội dung khiếu nại đối với các quyết định đã được người có thẩm quyền ban hành, đồng thời tố cáo những cán bộ, lãnh đạo tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Đến khoảng tháng 11/2020, bà Phan Thị Hồng V sang nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 11a, diện tích 441,5 m² cho người khác. Tuy nhiên, do bị cáo Hà T liên tục có đơn khiếu kiện tranh chấp thửa đất này dẫn đến các bên liên quan khó khăn trong việc sang nhượng quyền sử dụng đất. Thời điểm này, ông Phan Thành S (Sinh năm 1975, trú tại khu phố I, phường P, TP .- T, tỉnh Ninh Thuận) làm môi giới bất động sản đã đến nhà bị cáo Hà T thỏa thuận với nội dung đưa hỗ trợ cho bị cáo T số tiền 400.000.000 đồng với điều kiện bị cáo T không khiếu kiện tranh chấp thửa đất này để các bên liên quan thực hiện việc sang nhượng quyền sử dụng đất. Bị cáo T đồng ý và đã nhận số tiền hỗ trợ 400.000.000 đồng này. Sau đó, vợ chồng bị cáo Hà T tự nguyện đến Ủy ban nhân dân phường Đ xác nhận đơn không khiếu kiện tranh chấp thửa đất trên. Thửa đất này sau đó đã được thực hiện việc sang nhượng quyền sử dụng đất.

Đến khoảng tháng 5/2021, do có nhu cầu chuyển nhượng đất để kiếm lợi nhuận nên ông S đã hỏi mua thửa đất thửa số 73, tờ bản đồ số 24, diện tích 603,3m² tại phường Đ, thành phố P - T của bà Bùi Thị P1. Khi biết thửa đất này đang xảy ra tranh chấp giữa bị cáo Hà T và bà P1 nên ông S đã tự đến nhà bị cáo T để thỏa thuận với nội dung sẽ đưa hỗ trợ cho bị cáo T số tiền 500.000.000 đồng với điều kiện bị cáo T không khiếu kiện tranh chấp đối với thửa đất này nữa để các bên liên quan thuận lợi trong việc thực hiện thủ tục sang nhượng nhưng bị cáo T không đồng ý. Ngày 28/10/2021, bà P1 đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông Nguyễn Cửu R (Sinh năm 1985, trú tại khu phố D, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) với giá 1.700.000.000 đồng, việc chuyển nhượng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Ngày 13/12/2021, ông Đỗ Xuân T1 (Giám đốc Văn phòng Đl) đã ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05623 và ngày 21/01/2022, ông Trần Minh T2 (Nguyên Phó chủ tịch UBND thành phố P- T) ký Giấy phép xây dựng số 31/GPXD cho ông Nguyễn Cửu R.

Ngày 11/4/2023, vợ chồng bị cáo T và bị cáo P gửi đơn tố cáo ông Lê Hoài N và ông Trần Minh T2 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố ý trong việc giải quyết tố cáo, khiếu nại trái pháp luật, thực hiện hành vi cản trở trong việc giải quyết tố cáo và khiếu nại, cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ việc và tố các lãnh đạo, cá nhân khác gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N và được ông Lê H - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N ban hành Thông báo số 63/TB-UBND ngày 09/6/2023 về việc không thụ lý giải quyết tố cáo và Thông báo số 76/TB-UBND ngày 15/7/2023 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông T và bà P.

Không đồng ý với kết quả giải quyết đơn nên ngày 21/7/2023, bị cáo Hà T làm đơn tố cáo ông Lê H lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái công vụ, cố ý bao che, tiếp tay cho 02 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T nhũng nhiễu tiêu cực, tiếp tay lừa đảo chiếm đoạt tài sản đất đai và tẩu tán tài sản phạm tội mà có và tố cáo các lãnh đạo, cá nhân khác gửi Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Ninh Thuận.

Ngày 19/9/2023, bị cáo Hà T cùng với bị cáo Võ Thị P đã làm đơn tố cáo ông Phan Thành S đã có hành vi đưa hối lộ số tiền 500.000.000 đồng cho cán bộ Ủy ban nhân dân thành phố P - T và đưa hối lộ số tiền 600.000.000 đồng cho cán bộ Ủy ban nhân dân tỉnh N để Ủy ban nhân dân thành phố P - T và Ủy ban nhân dân tỉnh N không giải quyết vụ việc khiếu nại liên quan đến tranh chấp đất đai của vợ chồng bị cáo T; Đồng thời tố cáo cá nhân, lãnh đạo các sở ban ngành đã giải quyết vụ việc gửi đến lãnh đạo các cấp tỉnh Ninh Thuận. Trong đơn bị cáo Hà T cho rằng thời điểm bị cáo đang có khiếu kiện tranh chấp thửa đất của bà P1 nhưng Ủy ban nhân dân thành phố P - T lại ban hành các văn bản nêu trên, do đó bị cáo T cho rằng ông Phan Thành S đã có hành vi đưa hối lộ số tiền 500.000.000 đồng cho ông Trần Minh T2 - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T để Ủy ban nhân dân thành phố P - Tháp Chàm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy phép xây dựng cho ông Nguyễn Cửu R. Bị cáo T cho rằng ngày 29/3/2023, ông Phan Thành S lên nhà bị cáo đe doạ bóp cổ buộc bị cáo nhận số tiền 600.000.000 đồng để không đi thưa kiện đối với diện tích 603,3m², thuộc thửa đất số 73, tờ bản đồ số 24 nhưng bị cáo không nhận. Sau đó, ông Phan Thành S tiếp tục chạy án đem số tiền này hối lộ Ủy ban nhân dân tỉnh N do ông Lê H đã ký 03 văn bản trái pháp luật, có dấu hiệu tiêu cực, hối lộ.

Đối với đơn tố cáo ngày 19/9/2023, về việc ông S có hành vi đưa hối lộ được Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp nhận thụ lý. Ngày 14/11/2023, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã ban hành Thông báo số 1514/PC01 do Thượng tá Huỳnh Đoàn C1 ký với nội dung: “Căn cứ tài liệu thu thập được và các tài liệu do ông Hà T cung cấp, xét thấy không có căn cứ xác định ông Phan Thành S có hành vi đưa hối lộ số tiền 500.000.000 đồng cho cán bộ Ủy ban nhân dân thành phố P - T, đưa hối lộ số tiền 600.000.000 đồng cho cán bộ Ủy ban nhân dân tỉnh N để chạy án cho tham nhũng, tiêu cực hay có hành vi phạm tội nào khác như theo nội dung tố cáo của ông Hà T và bà Võ Thị P nên không có căn cứ để xử lý”.

Không đồng ý với kết quả giải quyết trên, ngày 26/11/2023 vợ chồng bị cáo T và bị cáo P tiếp tục viết đơn tố cáo ông Phan Thành S có hành vi đưa hối lộ để chạy án cho tham nhũng, tiêu cực, đe dọa ông T. Đồng thời, tố cáo ông Huỳnh Đoàn C1 và ông Võ Duy H1 có hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn Phó Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra PC01 Công an tỉnh N thi hành công vụ trái pháp luật, không có lợi gì cho mình hoặc lợi ích nhóm thì cố ý không làm, điều tra viên cố ý làm sai lệch hồ sơ, vụ việc, cố ý làm sai lệch, ghi âm, ghi hình có âm thanh trong khi đối chất, thái độ hành động tỏ ra thân thiện người chạy án” gửi đến Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy tỉnh N, Giám đốc Công an tỉnh N. Sau khi tiếp nhận đơn, qua xem xét nội dung đơn, căn cứ tài liệu thu thập được, xét thấy việc vợ chồng bị cáo T và bị cáo P tố cáo là không có căn cứ nên ông Nguyễn Văn T3 - Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ký Thông báo số 1663/PC01 ngày 13/12/2023 với nội dung: “Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ban hành Thông báo số 1514/PC01 ngày 14/11/2023 do đồng chí Thượng tá Huỳnh Đoàn C1 ký là có căn cứ; ông Hà T và bà Võ Thị P cho rằng Thượng tá Huỳnh Đoàn C1 và Đại úy Võ Duy H1 lợi dụng chức vụ, quyền hạn thi hành công vụ trái pháp luật, không làm hết trách nhiệm, quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết đơn của ông Hà T là không có căn cứ”.

Không đồng ý với kết quả trả lời đơn của ông Nguyễn Văn T3, bị cáo T và bị cáo P tiếp tục gửi đơn đề ngày 18/12/2023, tố cáo ông Nguyễn Văn T3, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh N và Lãnh đạo các sở ban ngành có hành vi “Tổ chức, cố ý lên kế hoạch bao che tội phạm, bỏ lọt tội phạm đến cùng; đồng lõa tiêu cực tham nhũng và tiếp tay làm giả hồ sơ phạm tội mà có, tẩu tán tài sản” gửi đến Bí thư Tỉnh ủy tỉnh N, Giám đốc Công an tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

Ngày 22/01/2024, vợ chồng bị cáo T và bị cáo P tiếp tục gửi đơn tố cáo ông Nguyễn Văn T3, Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các sở ban ngành có hành vi “Tổ chức, cố ý lên kế hoạch bao che tội phạm, bỏ lọt tội phạm đến cùng; đồng lõa tiêu cực tham nhũng và tiếp tay làm giả hồ sơ phạm tội mà có, tẩu tán tài sản do phạm tội mà có” gửi đến Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh N.

Ngày 02/3/2024, vợ chồng bị cáo T và bị cáo P tiếp tục gửi đơn tố cáo ông Nguyễn Văn T3, ông Huỳnh Đoàn C1, Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các sở ban ngành có hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn Thượng tá - Chánh văn phòng; Thượng tá - Phó Chánh văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra PC01 Công an tỉnh N cố ý bao che tội phạm, bỏ lọt tội phạm đến cùng, tiếp tay làm giả hồ sơ phạm tội mà có, dung túng người phạm tội đe dọa giết người tố cáo trước mặt cảnh sát điều tra” gửi Lãnh đạo Bộ C2.

Tiếp đó, ngày 28/3/2024, bị cáo T đến địa điểm tiếp công dân Công an tỉnh đăng ký và làm việc với Chánh Thanh tra Công an tỉnh liên quan đến nội dung tố cáo Thượng tá Nguyễn Văn T3, Thượng tá Huỳnh Đoàn C1 và Đại úy Võ Duy H1 vi phạm trong việc giải quyết đơn: Qua làm việc, ông Hà T không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh người giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật. Tại buổi làm việc, bà Mai Thị Hồng T4 - Chánh Thanh tra đã phân tích, giải thích cho bị cáo T biết nội dung khiếu nại, tố cáo của bị cáo T đã được các cơ quan chức năng giải quyết, Công an tỉnh N chỉ thụ lý tố cáo khi bị cáo T cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng bị cáo T không cung cấp, do đó không có căn cứ để giải quyết. Không đồng ý với giải thích của bà Mai Thị Hồng T4, ngày 14/4/2024 bị cáo T và bị cáo P có đơn yêu cầu giải quyết các tố cáo của bị cáo T trước đây, đồng thời tố cáo bà Mai Thị Hồng T4 - Chánh Thanh tra Công an tỉnh “Có hành vi nhũng nhiễu, sách nhiễu, nhận hối lộ số tiền 500.000.000 đồng của bà Bùi Thị Pl”, tố cáo ông Phan Thành S có hành vi đưa hối lộ cho cán bộ Ủy ban nhân dân thành phố P - T và cán bộ Ủy ban nhân dân tỉnh N gửi đến Bộ C2, Lãnh đạo cơ quan, tổ chức Ban ngành tỉnh Ninh Thuận và Giám đốc Công an tỉnh N.

Sau khi nhận được đơn tố cáo đề ngày 14/4/2024 của vợ chồng bị cáo T và bị cáo P, Thanh tra Công an tỉnh đã xem xét, giải quyết theo quy định. Xét thấy bị cáo T tố cáo xuất phát từ việc gửi đơn nhưng không đạt được mục đích, chuyển sang tố cáo đối với người giải quyết nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết có hành vi vi phạm pháp luật; căn cứ điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Tố cáo; Căn cứ khoản 2 Điều 7 Thông tư số 85/2020/TT-BCA ngày 03/8/2020 của Bộ C2 quy định việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân. Ngày 06/6/2024, Giám đốc Công an tỉnh N ký Thông báo số 1183/TB-CAT-PX05 về việc không thụ lý đơn tố cáo đơn đề ngày 14/4/2024 của bị cáo Hà T và bị cáo Võ Thị P.

Ngày 12/6/2024, vợ chồng bị cáo T và bị cáo P tiếp tục làm đơn tố cáo ông Huỳnh Tấn H2 - Giám đốc Công an tỉnh N gửi Bộ C2 về hành vi bao che, bỏ lọt tội phạm, tiếp tay tội phạm trong việc ký ban hành các văn bản, tố cáo các cá nhân có liên quan và tố cáo bà Mai Thị Hồng T4 - Chánh Thanh tra Công an tỉnh “có hành vi nhũng nhiễu, sách nhiễu, nhận hối lộ số tiền 500.000.000 đồng của bà Bùi Thị Pl”. Đơn tố cáo đã được Bộ C2 thụ lý và có Thông báo số 3655/TB-X05-P3, ngày 30/8/2024 của Thanh tra Bộ C2 về việc không thụ lý đơn tố cáo của vợ chồng Hà T.

Tại bản kết luận giám định số 285/KL-KTHS ngày 25/09/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Võ Thị P trên các tài liệu giám định có phải do cùng một người ký ra hay không.

Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo Võ Thị P và bị cáo Hà T thừa nhận do bị cáo P không biết chữ nên không đọc được nội dung tố cáo, tuy nhiên bị cáo T có nói cho bị cáo P các nội dung tố cáo trên, bị cáo P đồng ý cho bị cáo T ký thay. Ngoài những đơn trên thì bị cáo P có ký vào một vài đơn khác nhưng không nhớ rõ.

* Kết quả phân tích tài liệu, dữ liệu điện tử do bị cáo Hà T cung cấp:

- Đối với tài liệu: Qua phân tích, đánh giá xác định không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc ông Phan Thành S đã có hành vi đưa hối lộ cho ông Trần Minh T2 và ông Lê H; Bà Mai Thị Hồng T4 có hành vi nhận hối lộ của bà P1. Các tài liệu ông T cung cấp chỉ là các văn bản của các cơ quan tổ chức trả lời các nội dung liên quan đến đơn khiếu nại, tố cáo của vợ chồng bị cáo Hà T.

- Đối với 40 (Bốn mươi) hình ảnh: Qua phân tích, đánh giá xác định hình ảnh trên chỉ chụp lại hiện trường thửa đất tranh chấp, chụp hình ảnh ông Phan Thành S đến nhà bị cáo Hà T và chụp hình ảnh ông S làm việc tại Phòng PC01 Công an tỉnh N. Không có hình ảnh nào chứng minh việc ông Phan Thành S đưa hối lộ cho ông Trần Minh T2 và ông Lê Huyền . Không có hình ảnh nào chứng minh việc bà Mai Thị Hồng T4 nhận hối lộ của bà Bùi Thị P1.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Hà T phạm tội “Vu khống”.

Căn cứ: Điểm c, đ, h khoản 2 Điều 156, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo H (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

* Phần kháng cáo:

- Ngày 27/3/2025, bị cáo Hà T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà T là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới. Không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đề nghị HĐXX phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, tuyên xử: không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 48/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận đối với bị cáo Hà T. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo cho bị cáo do tuổi cao, sức yếu, bị bệnh động kinh cơn lớn. Bị cáo khiếu kiện nhiều năm nhưng không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết nên bức xúc dẫn đến phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị cáo Hà T kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Bị cáo có mặt tại phiên tòa tuy nhiên do sức khỏe không đảm bảo để tham dự phiên tòa nên xin rời khỏi phòng xét xử để được thân nhân đưa về thăm khám điều trị. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi công bố một số tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét đánh giá quá trình và kết quả điều tra, truy tố, xét xử của cấp sơ thẩm đã có đủ căn cứ xác định:

Trong thời gian từ tháng 4/2023 đến ngày 12/6/2024, bị cáo Hà T và bị cáo Võ Thị P đã thực hiện hành vi làm đơn tố cáo sai sự thật đối với các cá nhân có liên quan và các đồng chí lãnh đạo đơn vị Nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, cụ thể:

- Bị cáo Hà T và bị cáo Võ Thị Phú T5 bịa đặt, suy diễn và vu khống ông Phan Thành S có hành vi đưa hối lộ số tiền 500.000.000 đồng cho ông Trần Minh T2 (Nguyên Phó chủ tịch UBND thành phố P- T) để ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy phép xây dựng cho ông Nguyễn Cửu R. Bị cáo T và bị cáo P tiếp tục bịa đặt, suy diễn và vu khống ông S đã đưa số tiền 600.000.000 đồng cho ông Lê H để bao che tiếp tay cho ông Trần Minh T2, ông Lê Hoài N không giải quyết đơn của bị cáo T, bị cáo P.

Khi được Thanh tra Công an tỉnh N thụ lý giải quyết các đơn khiếu nại tố cáo, bị cáo T và bị cáo P tiếp tục tự bịa đặt, suy diễn và vu khống bà Mai Thị Hồng T4 (Chánh Thanh tra Công an tỉnh N) có hành vi nhũng nhiễu, sách nhiễu, nhận hối lộ số tiền 500.000.000 đồng của bà Bùi Thị P1.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hà T về tội “Vu khống” theo điểm c (đối với 02 người trở lên), đ (đối với người đang thi hành công vụ), h (Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) theo khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức án của các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo Hà T thể hiện bất chấp pháp luật, mặc dù đơn tố cáo của bị cáo Hà T về nội dung nêu trên đã được các cơ quan chức năng tiếp nhận giải quyết, trả lời và giải thích rõ là không có căn cứ, nhưng bị cáo Hà T vẫn tiếp tục viết đơn tố cáo về nội dung trên gửi các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và tỉnh Ninh Thuận, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân bị tố cáo, ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, đồng thời gây mất ổn định trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên theo điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo Hà T bị tổn hại sức khoẻ 65% vĩnh viễn (Bản giám định pháp Y ngày 27/9/2005) nên Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo kháng cáo có nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo nhưng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới mà chỉ nêu hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuổi cao, sức yếu, bị bệnh động kinh cơn lớn để làm căn cứ kháng cáo. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên đã được xem xét áp dụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Mặc khác bị cáo Hà T còn có tiền án, có nhân thân xấu nên không có căn cứ để xét giảm hình phạt cũng như áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo.

Do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Hà T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Hà T;

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận về phần hình phạt;

Tuyên bố: Bị cáo Hà T phạm tội “Vu khống”.

Áp dụng: Điểm c, đ, h khoản 2 Điều 156, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo H (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hà T được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26 - 6 - 2025).

CÁC THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Được
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về hình sự phúc thẩm về tội vu khống

  • Số bản án: 45/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Vu khống
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà T phạm tội Vu khống
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger