Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45/2025/HNGĐ - ST

Ngày 25/6/2025.

(V/v:ly hôn, tranh chấp nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phiếu, ông Hà Quang Văn.

Thư ký phiên toà: bà Vũ Thúy Hường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thu Hòa- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nho Quan xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 217/2024/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1999.
  • Nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

  • - Bị đơn: anh Đinh Văn H1, sinh năm 1991.
  • Nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Chị H và anh H1 đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: tôi và anh Đinh Văn H1 kết hôn với nhau vào ngày 19/9/2018 tại UBND xã T, huyện N, trước khi kết hôn chúng tôi có tìm hiểu, yêu nhau tự nguyện, không do ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống ở thôn A V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng tôi sống hạnh phúc được thời gian 5 năm, giữa hai chúng tôi xuất hiện nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, đồng thời do anh Đinh Văn H1 mải chơi, ít quan tâm vợ con làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt. Đến cuối tháng 4 năm 2024 anh Đinh Văn H1 bị bắt do có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kể từ đó vợ chồng tôi tình cảm đã hết, không còn quan tâm đến nhau. Tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, đã mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Đinh Văn H1. Về con chung: chị H trình bày vợ chồng tôi có 02 con chung, cháu lớn tên là: Đinh Quốc B, sinh ngày 25/12/2018, cháu nhỏ Đinh Bình An sinh ngày 31/10/2020; kể từ khi anh Đinh Văn H1 bị bắt cho đến nay, các con chung ở với tôi. Khi ly hôn, tôi đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho tôi được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh Đinh Văn H1 phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ chung chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 25/02/2025, biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2025, các biên bản tống đạt văn bản tố tụng, anh H1 trình bày: thừa nhận việc kết hôn, quá trình chung sống đúng như chị H đã trình bày nêu trên. Tuy nhiên anh H1 cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn vì chị H vẫn gửi tiền, bưu phẩm cho anh H1. Anh H1 đề nghị sau khoảng thời gian hai tháng nữa (tính từ ngày viết bản tự khai 25/02/2025), chậm nhất đến 05/6/2025 anh chấp hành xong hình phạt tù anh sẽ về thoả thuận việc ly hôn với chị H. Anh H1 xác định tình cảm vẫn còn nên không đồng ý ly hôn và mong muốn đoàn tụ vợ chồng. Về con chung, anh H1 cũng xác định: vợ chồng có 02 con chung, các thông tin liên quan đến con chung đúng như chị H đã trình bày nêu trên. Vì mong muốn đoàn tụ nên anh H1 không có ý kiến gì về việc nuôi con. Về tài sản và công nợ chung: anh H1 cũng đề nghị về gặp trực tiếp chị H để giải quyết, không có yêu cầu hay đơn đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung.

Tại phiên tòa chị H xác định tình cảm vợ chồng đã hết, việc chị vào thăm, gửi tiền, bưu phẩm cho anh H1 chỉ vì tình nghĩa, chứ không phải vì tình yêu, chị không còn tình thương yêu anh H1 nữa nên kiên quyết xin ly hôn anh H1. Về con chung chị H không nhất trí việc anh H1 yêu cầu nhận nuôi cả hai con chung. Chị H đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho mỗi người nuôi 01 con chung, cháu nào cũng được. Nếu anh H1 không nhận nuôi con thì chị nhận nuôi cả hai con. Các vấn đề khác chị H giữ nguyên quan điểm.

Tại phiên tòa anh H1 xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, không đồng ý ly hôn. Anh H1 cho rằng trong thời gian anh đi chấp hành án phạt tù, chị H có quan hệ bất chính nhưng không xuất trình tài liệu chứng minh, từ khi anh chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2025 đến nay dù anh đã cố gắng nhưng không hàn gắn được quan hệ vợ chồng. Anh H1 thừa nhận trong quá trình chung sống có sự việc anh vài lần sử dụng ma túy nên đôi khi lơ là việc quan tâm đến gia đình. Mặt khác anh H1 kiên quyết không đồng ý ly hôn vì vấn đề tài sản chung chị H chưa yêu cầu giải quyết rõ ràng, chỉ chấp nhận ly hôn khi chị H yêu cầu giải quyết rõ ràng về vấn đề tài sản chung. Về con chung anh H1 yêu cầu được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Các vấn đề khác anh H1 giữ nguyên quan điểm.

Tại phiên toà bà Kiểm sát viên cũng đã có bài phát biểu khẳng định quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung bà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: các Điều 5, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H: 1) xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn H1; 2) về con chung: giao các cháu Đinh Quốc B, sinh ngày 25/12/2018, Đinh Bình An sinh ngày 31/10/2020 cho chị Nguyễn Thị H được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; 3) về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Đinh Văn H1 có địa chỉ tại thôn A V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy việc Tòa án nhân dân huyện Nho Quan áp dụng Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đều có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn H1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi cưới hai người sinh sống tại thôn A V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian khoảng 5 năm, thì đã phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn theo sự trình bày của các đương sự cũng như qua xác minh tại cơ sở là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, một phần do anh Đinh Văn H1 có sa đà vào việc chơi bời, sử dụng ma túy, rồi anh H1 phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và phải đi chấp hành án phạt tù tại P, Trại giam S- Bộ C. Từ khi anh H1 bị bắt rồi phải đi chấp hành án phạt tù thì tình cảm vợ chồng phai nhạt. Sau khi anh H1 ra trại ngày 05/6/2025 cũng không có biện pháp hữu hiệu nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Bản thân chị H xác định tình cảm vợ chồng đã hết, việc chị vào thăm, gửi tiền, bưu phẩm cho anh H1 chỉ vì tình nghĩa, chứ không phải vì tình yêu, chị không còn thương yêu anh H1 nữa; còn anh H1 tuy cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn, vẫn còn tình cảm nhưng lại ra điều kiện đợi anh chấp hành xong hình phạt tù sẽ về thỏa thuận việc ly hôn với chị H, ra điều kiện chị H phải yêu cầu giải quyết ly hôn đồng thời với yêu cầu phân chia tài sản chung thì anh mới đồng ý ly hôn (nhưng anh H1 lại không có đơn yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung) là đòi hỏi vô lý, không phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên tòa anh H1 cũng không đồng ý ly hôn và cho rằng chị H có quan hệ bất chính nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh và anh không có biện pháp hữu hiệu nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Hơn nữa việc anh H1 tàng trữ mà túy nhằm để sử dụng và đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy cũng chứng tỏ anh H1 có tham gia việc chơi bời, sử dụng ma túy, lơ là việc quan tâm đến gia đình. Do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn H1 đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn H1 có 02 con chung là các cháu Đinh Quốc B, sinh ngày 25/12/2018, Đinh Bình An sinh ngày 31/10/2020. Xét cả chị H và anh H1 là những người khỏe mạnh, đều có thể tạo ra thu nhập chính đáng và đều không vi phạm đạo đức, lối sống trong nghĩa vụ làm cha mẹ nên đều có đủ điều kiện nuôi con. Anh H1 mới chấp hành xong hình phạt tù, hiện là lao động tự do nên nếu giao cả hai con chung cho anh H1 sẽ là gánh nặng về kinh tế. Bản thân chị H cũng đồng ý giao mỗi người nuôi một con chung, cháu nào cũng được. Do đó cần giao cho chị H được được trực tiếp nuôi dưỡng cháu nhỏ Đinh Bình An sinh ngày 31/10/2020; giao cho anh H1 cháu lớn Đinh Quốc B, sinh ngày 25/12/2018 là hợp tình, hợp lý. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị H, anh H1 đều không có yêu cầu nên không buộc chị H và anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản và công nợ chung: chị H và anh H1 không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung thành vụ kiện riêng.

[5] Về án phí:

Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn H1.
  2. Về con chung: giao cháu Đinh Quốc B, sinh ngày 25/12/2018 cho anh Đinh Văn H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đinh Quốc B đủ 18 tuổi; giao cháu Đinh Bình A cho Nguyễn Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đinh Bình A đủ 18 tuổi. Anh Đinh Văn H1 và chị Nguyễn Thị H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Nho Quan theo biên lai số BLTU/23/0001378, ngày 10/10/2024.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Nho Quan;
  • - Chi cục THADS Nho Quan;
  • - UBND xã Thượng Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hữu Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HNGĐ - ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 45/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H xin ly hôn Đinh Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger