|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Trương
- Ông Võ Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QĐ-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Thảo N, sinh năm: 1992 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Ông Hồ Thanh L, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
Đăng ký thường trú: Số E ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn Dương Thị Thảo N trình bày: Nguyên đơn và bị đơn Hồ Thanh L tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã, hai bên cũng đã tìm cách hàn gắn nhưng không được. Do tình cảm không còn nên bà N yêu cầu ly hôn với ông L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hồ Ngọc Quỳnh M (nữ) sinh ngày 01/01/2017 và Hồ Ngọc Đan T (nữ) sinh ngày 07/4/2023. Vợ chồng thỏa thuận bà N yêu cầu được nuôi Đan T, đồng ý giao Quỳnh My cho ông L nuôi dưỡng, bà N không cấp dưỡng và cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình tố tụng bị đơn Hồ Thanh L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn Dương Thị Thảo N về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, tài sản chung không có, nợ chung không có. Do bị đơn còn thương vợ nên xin thời gian để đoàn tựu.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung: Bà N được quyền nuôi cháu Đan T, ông L nuôi cháu Quỳnh M, không ai phải cấp dưỡng; Về tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Nợ chung: Không có. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Dương Thị Thảo N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Hồ Thanh L. Bị đơn có địa chỉ tại huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Tại phiên tòa nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Dương Thị Thảo N và bị đơn Hồ Thanh L tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2016 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của bà N thì thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, những sau này thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do hay bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án ông L trình bày ý kiến thống nhất với bà N về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung, nợ chung nhưng do ông còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm với bà N và vắng mặt tại các phiên tòa. Điều đó cho thấy ông L không muốn hàn gắn cuộc hôn nhân của ông với bà N. Do mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn với ông L là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hồ Ngọc Quỳnh M (nữ) sinh ngày 01/01/2017 và Hồ Ngọc Đan T (nữ) sinh ngày 07/4/2023. Ghi nhận thỏa thuận bà N nuôi cháu Hồ Ngọc Đan T, ông L nuôi cháu Hồ Ngọc Quỳnh M nuôi dưỡng, các đương sự không cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đặt ra giải quyết.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Dương Thị Thảo N được ly hôn với ông Hồ Thanh L.
- [2] Về con chung: Giao cháu Hồ Ngọc Quỳnh M (nữ) sinh ngày 01/01/2017 cho ông Hồ Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi, giao cháu Hồ Ngọc Đan T (nữ) sinh ngày 07/4/2023 cho bà Dương Thị Thảo N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Bà N, ông L không cấp dưỡng và cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa đặt ra xem xét giải quyết.
- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- [3] Về tài sản chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
- [4] Về nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
- [5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Dương Thị Thảo N phải chịu là 300.000 đồng được khấu từ vào tiền tạm ứng án phí mà bà N đã đóng theo biên lai số 0003644 ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Bà N đã nộp xong.
- [6] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Quốc V |
Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn
- Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
