Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK

Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21-11-2025

V/v: “Không công nhận quan hệ vợ chồng”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan, ông Nguyễn Văn Hải.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoà Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 150/2025/TLST - HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05/11/2025, giữa:

  • Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1971.
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã K, tỉnh Đắk Lắk.

Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông bà sau một thời gian quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau tự nguyện thì quyết định tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, vợ chồng ông bà chung sống với nhau từ năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn.

Sau khi về chung sống với nhau theo bà H, vợ chồng ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có được tiếng nói chung và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay.

Nguyện vọng của bà H là yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Đình T theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Trong thời kỳ chung sống vợ chồng ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 09/3/1995; Nguyễn Trần Huệ H, sinh ngày 07/12/2006. Hiện nay, các cháu đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Đình T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông bà chung sống với nhau từ năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống với nhau, vợ chồng ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng thì ông T đồng ý.

- Về con chung: Trong thời kỳ chung sống vợ chồng ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 09/3/1995; Nguyễn Trần Huệ H, sinh ngày 07/12/2006. Hiện nay, các cháu đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm b mục 3 Nghị Quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H. Về hôn nhân: Tuyên không công nhận bà Trần Thị H và ông Nguyễn Đình T là vợ chồng; Về con chung: Hiện các con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là không công nhận quan hệ vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn cư trú tại xã K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.

Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất nguyên đơn bà Trần Thị H, bị đơn ông Nguyễn Đình T vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Đình T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993, ông bà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà H có yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông T. Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà H, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị H và ông Nguyễn Đình T.

Về con chung: Các con chung cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 09/3/1995; Nguyễn Trần Huệ H, sinh ngày 07/12/2006, đã đủ 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 7 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm b mục 3 Nghị Quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị H và ông Nguyễn Đình T.
  3. Về con chung: Các con chung cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 09/3/1995; Nguyễn Trần Huệ H, sinh ngày 07/12/2006, đã đủ 18 tuổi, nên các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0001776 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

3. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 4;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã K;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐẮK LẮK về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger