Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3- NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HNGĐ - ST

Ngày 18/11/2025.

V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phiếu.
  2. Ông Bùi Khắc Thái.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2025/TLST - HNGĐ, ngày 25 tháng 8 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 31/10/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; Nơi cư trú: thôn X, xã Đ, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: anh Đỗ Đại H1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: thôn X, xã Đ, tỉnh Ninh Bình.

có mặt tại phiên tòa chị H; vắng mặt anh H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 8 năm 2025 và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: chị và anh Đỗ Đại H1 được tự do tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 27/5/2016 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Đ, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau tại thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Đ, tỉnh Ninh Bình), được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, mặt khác anh H1 không tu chí làm ăn, không chăm lo tới gia đình vợ con, chị H đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H1 vẫn không thay đổi còn quay ra chửi bới, đánh đập chị H khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Đến tháng 7/2025, mâu thuẫn vợ chồng đã lên đến đỉnh điểm nên chị H đã về nhà bố mẹ đẻ tôi tại xã G, huyện G (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình) để sinh sống từ đó tới nay vợ chồng không còn quan tâm, quan hệ gì với nhau nữa. Nay chị H thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Đại H1. Về con chung: vợ chồng có hai con chung tên là Đỗ Hà M, sinh ngày 21/10/2016 và Đỗ Tấn P, sinh ngày 27/6/2018. Do hai con còn nhỏ nên khi ly hôn chị H muốn cả hai con được ở cùng với nhau nên chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H mỗi tháng là 4.000.000 đồng (2.000.000 đồng/1 con/1 tháng) cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Trường hợp anh H1 nuôi được các con thì chị H cũng đồng ý giao cả hai con cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng và chị H sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H1 mỗi tháng là 4.000.000 đồng (2.000.000 đồng/1 con/1 tháng) cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Về tài sản và công nợ chung chị H không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28/8/2025, bị đơn anh Đỗ Đại H1 trình bầy: việc tìm hiểu, kết hôn, cuộc sống chung và mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị H trình bầy. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh H1 mải chơi, không chăm lo tới gia đình, vợ con. Tuy nhiên anh H1 đã nhận ra lỗi lầm và sửa chữa bản thân nhưng chị H vẫn không tha thứ và đòi ly hôn với anh. Anh H1 xác định tuy vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức phải ly hôn nên đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải đề vợ chồng quay về đoàn tụ với nhau. Nếu chị H vẫn kiên quyết ly hôn đó là quyền của chị H, anh H1 vẫn không đồng ý ly hôn. Về con chung, anh H1 xác định vợ chồng có hai con chung như chị H trình bầy. Trường hợp vợ chồng phải ly hôn với nhau thì anh đề nghị mỗi người nuôi 1 con và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản và công nợ chung anh H1 không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 15/9/2025, ông Đỗ Văn H2 và bà Nguyễn Thị T - là bố mẹ đẻ anh Đỗ Đại H1 cho biết: anh H1, chị H có được tự do tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình vào ngày 27/5/2016. Sau khi kết hôn, anh H1, chị H sống cùng gia đình ông bà tại thôn X, xã G (nay là xã Đ, tỉnh Ninh Bình). Anh H1, chị H chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn, cho tới vài tháng gần đây vợ chồng anh H1, chị H xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H1 phát hiện chị H có những tin nhắn không lành mạnh nên giữa hai vợ chồng xẩy ra to tiếng, cãi chửi nhau. Gia đình ông bà có khuyên bảo nhưng anh H1, chị H vẫn không khắc phục được mâu thuẫn với nhau. Khoảng tháng 7/2025, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã G, tỉnh Ninh Bình để sinh sống và cả hai sống ly thân từ đó tới nay. Ông, bà xác định, anh H1, chị H có mâu thuẫn với nhau, việc ly hôn hay không do anh H1, chị H tự quyết định. Về con chung: anh H1, chị H có hai con chung là các cháu Đỗ Hà M, sinh ngày 21/10/2016 và cháu Đỗ Tấn P, sinh ngày 27/6/2018. Hiện tại anh H1 đi lái tầu sông thường xuyên phải xa nhà với thu nhập bình quân 20.000.000 đồng/tháng; chị H làm tự do ở nhà với thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng. Trường hợp anh H1, chị H ly hôn với nhau, đề nghị Tòa án xem xét giao các cháu cho ai trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các cháu.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/8/2025, cháu M và cháu P đều có nguyện vọng muốn được ở với chị H vì chị H là người thường xuyên chăm lo cho các cháu.

Tại phiên toà bà Kiểm sát viên cũng đã có bài phát biểu khẳng định quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung bà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84; 107; 110; 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đỗ Đại H1; về con chung đề nghị giao các cháu Đỗ Hà M và Đỗ Tấn P cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục bắt đầu từ tháng 10/2025 cho đến khi cháu M và cháu P đủ 18 tuổi. Anh Đỗ Đại H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng với chị H với mức 2.000.000 đồng/1 con/1 tháng cho đến khi cháu M và cháu P đủ 18 tuổi. Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung; về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T1 đã nộp; anh Đỗ Đại H1 phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Đỗ Đại H1 có địa chỉ tại thôn X, xã Đ, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy việc Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình áp dụng Điều 28; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đại H1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn hai người chung sống với nhau tại thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Đ, tỉnh Ninh Bình). Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H1 không tu chí làm ăn, không quan tâm tới gia đình vợ con. Chị H khẳng định hiện nay mâu thuẫn vợ chồng chị đã đến mức thật sự trầm trọng không khắc phục được. Anh H1 cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng do anh mải chơi không quan tâm tới gia đình vợ con, nhưng anh H1 cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, chưa đến mức phải ly hôn nên đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng quay về đoàn tụ với nhau. Tuy nhiên khi Tòa án thông báo các đương sự tới để tiến hành hòa giải nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh Đỗ Đại H1 không có thiện chí trong việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đại H1 đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đỗ Đại H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đại H1 có hai con chung tên là Đỗ Hà M, sinh ngày 21/10/2016 và Đỗ Tấn P, sinh ngày 27/6/2018. Xét thấy công việc hiện nay của anh H1 đi lái tầu sông thường xuyên phải xa nhà, mà bản thân anh H1 cũng thừa nhận trước đây mải chơi không chăm lo tới gia đình vợ con; bản thân chị H tuy lao động tự do (bán cà phê dạo) nhưng cũng có thu nhập ổn định (khoảng 7.000.000 đồng/tháng), bản thân cháu M và P khẳng định chị H là người thường xuyên chăm sóc các cháu và các cháu đều có nguyện vọng muốn được ở với chị H. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu M và cháu P khi bố mẹ ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu của chị H. Giao các cháu Đỗ Hà M và Đỗ Tấn P cho chị H trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới khi các cháu đủ 18 tuổi và anh H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản và công nợ chung: chị H và anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà không xét.

[5] Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn sơ thẩm; anh Đỗ Đại H1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84; 107; 110; 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đỗ Đại H1.
  2. Về con chung: giao các cháu Đỗ Hà M, sinh ngày 21/10/2016 và cháu Đỗ Tấn P, sinh ngày 27/6/2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục bắt đầu từ tháng 11/2025 cho đến khi cháu Đỗ Hà M và Đỗ Tấn P đủ 18 tuổi. Anh Đỗ Đại H1 có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng với chị H với mức 2.000.000 đồng/1 con/1 tháng, bắt đầu từ tháng 11/2025 cho đến khi cháu Đỗ Hà M và Đỗ Tấn P đủ 18 tuổi.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Ninh Bình theo biên lai số 0000660, ngày 25/8/2025. Anh Đỗ Đại H1 phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND Khu vực 3- Ninh Bình;
  • - Cục Thi hàn án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Đại Hoàng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HNGĐ - ST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 45/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hòa - Đỗ Đại Hiệp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger