|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-3-2025 V/v: Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Trân
Bà Nguyễn Hồng Xứng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang:
Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2024/HNGĐST ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Yến Nhi, sinh năm 2003
Địa chỉ: Tổ 4, ấp Hòa Lộc, xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang
- Bị đơn: Ông Kim Seonggi, sinh năm 1978
Địa chỉ: 618 Namdang-ri, hamyeol-eup, iksan-si, jeollabuk-do, Korea
(Bà Nhi có đơn xin vắng mặt, ông Kim Seonggi vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Lâm Yến Nhi trình bày theo đơn khởi kiện và bản tự khai: Năm 2023, bà quen biết ông Kim Seonggi qua mai mối, sau khi tìm hiểu có nảy sinh tình cảm, có làm đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang vào ngày 15/5/2023.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng nhau tại nhà bà Nhi khoảng 15 ngày thì ông Kim Seonggi trở về Hàn Quốc. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2023 ông Seonggi thường xuyên đi về giữa Việt Nam và Hàn Quốc để thăm bà, vợ chồng hạnh phúc. Đến tháng 9 năm 2023 ông bà phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, khác biệt về văn hóa và bất đồng quan điểm sống nên ông bà không còn liên lạc với nhau từ tháng 9/2023 đến nay.
Hiện tại ông Kim Seonggi sống và làm việc tại Hàn Quốc, bà sống tại Việt Nam, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án tỉnh Kiên Giang giải quyết cho bà được ly hôn với ông Kim Seonggi.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Kim Seonggi: vắng mặt suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và chưa có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Yến Nhi theo ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Lâm Yến Nhi với bị đơn ông Kim Seonggi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lâm Yến Nhi có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; đối với ông Kim Seonggi vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ. Căn cứ theo quy định tại các điều Điều 227, 228, 238 và 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lâm Yến Nhi và ông Kim Seonggi quen biết nhau qua mai mối, hai bên có tình cảm yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang ngày 15/5/2023. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Yến Nhi và ông Kim Seonggi là hợp pháp.
Nguyên nhân bà Nhi yêu cầu ly hôn là do tính tình không phù hợp, khác biệt về văn hóa và bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn quan tâm không liên lạc với nhau từ tháng 9/2023 đến nay, bà Nhi xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Kim Seonggi.
Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Kim Seonggi tại Trụ sở và trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông Kim Seonggi vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nhi.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Yến Nhi và ông Kim Seonggi đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không tiếp tục chung sống vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lâm Yến Nhi với ông Kim Seonggi.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nhi xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Lâm Yến Nhi phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà Nhi đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0006273 ngày 03/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang
[4] Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC.
Bà Lâm Yến Nhi phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, bà Nhi đã nộp theo biên lai thu số 00063684 ngày 05/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điểm a khoản 5 Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lâm Yến Nhi.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Yến Nhi được ly hôn với ông Kim Seonggi.
2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Yến Nhi phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà Nhi đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0006273 ngày 03/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang
4. Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Lâm Yến Nhi phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, bà Nhi đã nộp theo biên lai thu số 00063684 ngày 05/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Bà Lâm Yến Nhi có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Kim Seonggi có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hường |
Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Yến N - Kim S ly hôn
