TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 3 - 2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Bà Nguyễn Thị Phương Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXX - HNGĐ, ngày 17/02/2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 30/TB-TA ngày 05/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mỹ T, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Hiện trú tại: Số nhà D, ngõ B, đường H, quận T, TP Đ - Đài Loan) – vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đoàn Văn V, sinh năm 1993: địa chỉ: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Văn Q, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957; địa chỉ: Số nhà B, đường H, TDP N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh – Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Văn V là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 25/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K (nay là phường K, thị xã K), tỉnh Hà Tĩnh và sống hạnh phúc với nhau được một thời gian. Năm 2018, do điều kiện kinh tế gia đình nên chị T quyết định đi Đài Loan làm việc theo diện xuất khẩu lao động. Đến khoảng năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết và vợ chồng cắt đứt liên lạc từ đó. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do chị T và anh V bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh V không tập trung làm ăn, không quan tâm đến vợ và con cái, thường xuyên chơi bời dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài và chị T xác định không còn tình cảm với anh V nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đoàn Văn V để chị sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chị T, anh V có 01 con chung là cháu Đoàn Gia B, sinh ngày 25/12/2014, hiện tại cháu đang ở với bố và ông bà nội tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Do hiện tại chị T đang lao động ở Đài Loan không có điều kiện về thời gian nên chị yêu cầu Tòa án giao con cho anh Đoàn Văn V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và chị đóng góp cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Đoàn Văn V trình bày:
Về tình cảm: Anh thống nhất với chị Nguyễn Mỹ T về điều kiện và thời gian đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng sau đó anh V về nước còn chị T vẫn ở lại Đài Loan làm ăn. Mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh từ đó, nguyên nhân do khoảng cách địa lý nên vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên anh Đoàn Văn V không nhất trí ly hôn mà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Đoàn Gia B, sinh ngày 25/12/2014, hiện tại đang do anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh Đoàn Văn V đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh có nợ bố mẹ anh là ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 số tiền 500.000.000đồng. Nay anh Đoàn Văn V yêu cầu chia đôi số nợ, buộc chị T trả 250.000.000đồng và anh trả 250.000.000đồng cho ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Trước đây vợ chồng ông bà có thế chấp bìa đất để vay của ngân hàng N1 và PTNT V - K số tiền 500.000.000đồng và sau đó đưa về cho vợ chồng anh Đoàn Văn V và Nguyễn Mỹ T vay số tiền này để kinh doanh quán Internet. Tuy nhiên, do tin tưởng anh V, chị T là con cái trong gia đình nên không lập giấy tờ vay mượn gì. Hiện nay số tiền này ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 đã tất toán đầy đủ cho ngân hàng và yêu cầu chia đôi số nợ buộc chị T trả 250.000.000đồng và anh trả 250.000.000đồng cho ông bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28; 37; 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết:
- Về tình cảm: cho chị Nguyễn Mỹ T được ly hôn anh Đoàn Văn V
- Về con chung: giao con chung cháu Đoàn Gia B, sinh ngày 25/12/2014 cho anh Đoàn Văn V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T phải nộp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng.
- Về nợ chung: Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn anh Đoàn Văn V về buộc chị Nguyễn Mỹ T phải trả ½ khoản tiền nợ chung 500.000.000 đồng.
- Về án phí: chị Nguyễn Mỹ T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ T hiện đang lao động tại Đài Loan và tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, chị T có địa chỉ cư trú tại số nhà D, ngõ B, đường H, quận T, TP Đ - Đài Loan. Còn bị đơn anh Đoàn Văn V cư trú tại tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Mỹ T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Đối với bị đơn anh Đoàn Văn V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn Q, bà Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng các đương sự theo quy định pháp luật.
- Về nội dung:
[2.1]. Về tình cảm: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Mỹ T và anh Đoàn Văn V đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 25/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K (nay là phường K, thị xã K), tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa hai người là hợp pháp.
Xét về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thấy rằng: Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh V chung sống hạnh phúc được một thời gian. Năm 2018, vợ chồng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng sau đó anh V về nước còn chị T vẫn ở lại Đài Loan làm ăn. Sau đó, mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu nảy sinh, nguyên nhân do khoảng cách địa lý, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không còn tin tưởng nên tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng và đến nay không còn liên lạc gì với nhau.
Đối với bị đơn anh Đoàn Văn V xác định tình cảm vợ chồng có mâu thuẫn do không tin tưởng nhau và mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng cho đến nay anh vẫn không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong khi đó chị Nguyễn Mỹ T hiện đang ở nước ngoài, khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và tha thiết xin được ly hôn với anh Đoàn Văn V.
Hội đồng xét xử xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng tôn trọng, chia sẽ, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng hôn nhân giữa chị Nguyễn Mỹ T và anh Đoàn Văn V đã không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Do đó, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Mỹ T và anh Đoàn Văn V để mỗi người sớm ổn định cuộc sống.
[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, anh V và chị T có 01 con chung là cháu Đoàn Gia B, sinh ngày 25/12/2014 hiện đang do anh Đoàn Văn V trực tiếp chăm sóc. Chị Nguyễn Mỹ T đang ở nước ngoài và mong muốn giao con cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị sẽ có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Đối với anh Đoàn Văn V, mặc dù về tình cảm anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng trường hợp vợ chồng ly hôn anh cũng có nguyện vọng tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Mặt khác, cháu Đoàn Gia B cũng có đơn nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Do đó, để không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như xáo trộn cuộc sống của cháu Đoàn Gia B nên cần giao cho anh Đoàn Văn V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, buộc chị Nguyễn Mỹ T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000đồng bằng ½ mức lương tối thiểu vùng như hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho đến khi khi con chung tròn 18 tuổi là phù hợp. Chị Nguyễn Mỹ T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.3]. Về tài sản chung: Anh Đoàn Văn V và chị Nguyễn Mỹ T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[2.4]. Về nợ chung: Bị đơn anh Đoàn Văn V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Văn Q, bà Nguyễn Thị T1 là bố mẹ anh V trình bày hiện nay vợ chồng anh V có nợ ông bà số tiền 500.000.000đồng. Số tiền này, theo anh Đoàn Văn V là do vợ chồng anh vay của Ngân hàng N2 chi nhánh thị xã K- Hà Tĩnh và sau đó được bố mẹ anh trả thay nên anh đề nghị vợ chồng phải trả cho ông bà. Trong khi đó, ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 cho rằng số tiền 500.000.000đồng là do vợ chồng ông bà thế chấp bìa đất và đưa tiền về cho vợ chồng anh V, chị T vay nhưng hiện nay ông bà đã tất toán đầy đủ cho phía ngân hàng. Nay vợ chồng anh V ly hôn, ông bà yêu cầu anh V và chị T phải có trách nhiệm trả nợ cho ông bà.
Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng N2 chi nhánh thị xã K - Hà Tĩnh có văn bản trình bày trong các năm 2014, 2015 và 2016, anh Đoàn Văn V và chị Nguyễn Mỹ T có vay vốn tại ngân hàng nhưng đã tất toán đầy đủ vào các năm 2015, 2016, 2017. Riêng đối với khoản nợ 500.000.000đồng thì anh V và chị T không có tài liệu, hồ sơ liên quan nào thể hiện vợ chồng anh V vay nợ của nợ của ngân hàng.
Xét thấy, mặc dù anh Đoàn Văn V, ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 đều cho rằng anh V, chị T có nợ của vợ chồng ông Q số tiền 500.000.000đồng nhưng do các đương sự đều không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 cho vợ chồng anh V, chị T vay số tiền này. Trong khi đó, nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ T có văn bản trình bày vợ chồng chị không có khoản nợ chung nào trong thời kỳ hôn nhân và chị hoàn toàn không biết gì về khoản nợ 500.000.000đồng mà ông Q, bà T1 yêu cầu nên chị không đồng ý với yêu cầu buộc trả nợ của ông Q, bà T1.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 về việc buộc chị Nguyễn Mỹ T và anh Đoàn Văn V phải trả số tiền 500.000.000đồng cho ông bà.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí DSST theo quy định
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, 37, 39, 227, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP ngày 16/5/2024; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ T. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Mỹ T được ly hôn với anh Đoàn Văn V.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là Đoàn Gia B, sinh ngày 25/12/2014 cho anh Đoàn Văn V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Mỹ T có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi cháu Đoàn Gia B tròn 18 tuổi. Chị Nguyễn Mỹ T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về nợ chung: Không chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Văn Q, bà Nguyễn Thị T1 về việc buộc anh Đoàn Văn V và chị Nguyễn Mỹ T phải trả cho ông Đoàn Văn Q, bà Nguyễn Thị T1 số tiền 500.000.000 đồng.
- Về án phí:
- Buộc chị Nguyễn Mỹ T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000831 ngày 26/3/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Chị Nguyễn Mỹ T còn phải nộp số tiền 300.000đồng.
- Miễn án phí DSST cho ông Đoàn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| CÁC HỘI THẨM | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Tất Thể | Bùi Văn Lam |
| Nguyễn Thị Phương N |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mỹ T xin ly hôn Đoàn Văn V
