trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/6/2025

V/v : Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Tiếp

Ông Lê Cát Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên

tòa: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 224/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1984 (có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá H, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: SN A ngõ T, đường T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2025 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại SN A ngõ T, đường T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh H không có trách nhiệm với vợ con nên vợ chồng có xảy ra cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ đầu năm 2020 vợ chồng chị sống ly thân mặc dù vẫn ở chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Bá H.

- Về con chung: Anh chị có 04 con chung: cháu Nguyễn Bá H1, sinh ngày 21/12/2004 (đã thành niên); cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/11/2007; cháu Nguyễn Bá Thái D, sinh ngày 29/12/2012 và cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 28/01/2017. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu L, cháu D và cháu Quỳnh A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Bá H theo quy định của pháp luật nhưng anh H không đến Tòa án để tự khai cũng như tham gia phiên hòa giải.

Tại phiên tòa hôm nay chị N vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành và chưa thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ tố tụng nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt anh H là đúng quy định.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận giải quyết cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Bá H. Về con: Cháu Nguyễn Bá H1 đã thành niên nên không đề nghị giải quyết. Giao cháu Nguyễn Thùy L cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Bá Thái D và cháu Nguyễn Quỳnh A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, công nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị N khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Bá H là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh H có địa chỉ tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết, anh H đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ nhưng anh H vắng mặt không có lý do, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Bá H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/02/2004 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Qua xác minh tại địa phương thể hiện: anh chị chung sống có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Mặc dù sống cùng một nhà nhưng anh chị không ai quan tâm đến ai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H để tham gia tố tụng nhưng anh đều vắng mặt. Điều đó cho thấy anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn cũng như tìm cách hàn gắn tình cảm của vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân giữa chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Nguyễn Bá H là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị N và anh H có 04 con chung: cháu Nguyễn Bá H1, sinh ngày 21/12/2004 (đã thành niên); cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/11/2007; cháu Nguyễn Bá Thái D, sinh ngày 29/12/2012 và cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 28/01/2017. Quá trình giải quyết vụ án anh H không có ý kiến về phần con chung, còn nguyện vọng của chị N là được nuôi dưỡng cháu L, cháu D và cháu Quỳnh A và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét theo nguyện vọng của cháu L, cháu D và cháu Quỳnh A muốn được ở cùng với mẹ và hiện tại các cháu đang ở ổn định với chị N, chị N vẫn đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng tốt các cháu về mọi mặt. Do vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình giao cháu L, cháu D và cháu Quỳnh A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản, công nợ: Chị N không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Nguyễn Bá H.
  2. Về con chung: Chị N và anh H chị có 04 con chung: cháu Nguyễn Bá H1, sinh ngày 21/12/2004 (đã thành niên); cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/11/2007; cháu Nguyễn Bá Thái D, sinh ngày 29/12/2012 và cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 28/01/2017. Giao cháu L, cháu D và cháu Quỳnh A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản, công nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Án phí: Chị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng chị N được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số BLTU/24/0006765 ngày 02/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa. Như vậy, chị N đã nộp đủ án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án, anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thanh Hóa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa;
  • - Ủy ban nhân dân phường Đông Thọ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger