|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06-6-2025 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hoàng và ông Nguyễn Thanh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 520/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 07/02/1989; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
- Bị đơn: Anh Huỳnh Thái N, sinh ngày 03/7/1985; Địa chỉ: Tổ F, ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày: Hôn nhân giữa chị L và anh N do tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 14/01/2022 nhưng không tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, chị L và anh N sinh sống tại nhà của anh N được 10 ngày, do tính tình không hợp nhau nên chị L và anh N xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp nên đã sống xa nhau từ cuối tháng 01/2022 cho đến nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nên chị L yêu cầu ly hôn với anh N.
Về tài sản chung, nợ chung, con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Huỳnh Thái N đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 191, 192, 203 và Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Huỳnh Thái N; về tài sản chung và nợ chung chị L khai không có, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Mỹ L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Thái N có nơi cư trú tại tổ F, ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Huỳnh Thái N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Võ Minh T kết hôn với nhau vào năm 2022, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L và anh N sinh sống tại nhà của anh N được 10 ngày, do tính tình không hợp nhau nên chị L và anh N xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp nên đã sống xa nhau từ cuối tháng 01/2022 cho đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh N. Hội đồng xét xử, xét thấy, sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau chỉ có 10 ngày thì anh chị không còn chung sống với nhau nữa và từ khi anh chị sống ly thân nhau anh chị cũng không có thiện chí khắc phục những mâu thuẩn gia đình để vợ chồng đoàn tụ và kể từ ngày chị L nộp đơn xin ly hôn với anh N cho đến nay anh N đã cố tình né tránh không đến tòa án để tham gia hòa giải cũng như tham dự phiên tòa. Hội đồng xét xử cũng đã động viên chị L để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị L vẫn cương quyết ly hôn với anh N. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xét, cho chị L được ly hôn với anh N.
[2] Về con chung: Không có.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa chị L khai vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh N vắng mặt nên HĐXX không xem xét về tài sản chung của anh chị. Nếu anh N chứng minh được vợ chồng có tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung thì anh có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Huỳnh Thái N.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số: 0009015 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
“Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ”.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Lan |
Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
