|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03/4/2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Đào
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngoan
- Bà Nguyễn Xuân Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 693/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1985; Địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Văn B – sinh năm 1976; địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh B chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân tự nguyện. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do anh B không tin tưởng chị T về mặt tình cảm, vợ chồng liên tục bất hòa không còn tiếng nói chung, sống ly thân từ 4/2024. Nay hôn nhân giữa anh chị không thể hàn gắn, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh B.
Về con chung: Có 01 cháu tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11/7/2007 hiện đang sống cùng chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Trần Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có lời khai tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chị Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh B là đúng quy định tại Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T; giao con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11/7/2007 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ghi nhận chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung chị T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Tính án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Văn B được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh B chung sống với nhau từ năm 2004, có thực hiện việc đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh B do anh chị phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, sống ly thân từ tháng 4/2024 đến nay không hàn gắn được. Mặt khác, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã nhiều lần triệu tập nhưng anh B luôn vắng mặt không rõ lý do, điều này thể hiện anh B không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của anh chị. Do đó, yêu cầu được ly hôn chị T là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: 01 người con tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11/7/2007 hiện đang sống ổn định cùng chị T và có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Do đó, giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp, ghi nhận chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T đối với anh Trần Văn B.
Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Trần Văn B.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11/7/2007 cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010054 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận chị T đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị T, anh B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Đ |
Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
