|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 02 – 4 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đô.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Thanh.
- Bà Nguyễn Hoa Lài.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31A/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Trung K, sinh năm 1987. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm: 1989. Vắng mặt không có lý do.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Lê Trung K trình bày: Anh và chị Trần Thị H có quen biết và tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang ngày 20/02/2014. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian đến tháng 10/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị H.
Về con chung: Có 02 (một) con chung tên Lê Thống N (nam), sinh ngày 28/4/2015 và Lê Hòa B (nam), sinh ngày 08/11/2016. 02 con chung hiện đang là đối tượng khuyết tật nặng và đang do anh trực tiếp chăm sóc. Anh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh không yêu cầu chị Trần Thị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình tố tụng bị đơn là chị Trần Thị H không đến Tòa án dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không ghi được lời khai của chị Trần Thị H.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh Lê Trung K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị H vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Lê Trung K được ly hôn với chị Trần Thị H; Về con chung: Đề nghị giao cháu Lê Thống N (nam), sinh ngày 28/4/2015 và Lê Hòa B (nam), sinh ngày 08/11/2016 cho anh Lê Trung K nuôi dưỡng, anh Lê Trung K chưa có yêu cầu chị Trần Thị H cấp dưỡng nên chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Trung K khai không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đề nghị buộc anh Lê Trung K phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Trung K và chị Trần Thị H do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được nên anh Lê Trung K yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị H và yêu cầu giải quyết con chung, do chị Trần Thị H có địa chỉ cư trú ở Ấp T, xã T, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lê Trung K có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị H vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giải quyết vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa anh Lê Trung K và chị Trần Thị H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang ngày 20/02/2014. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian đến tháng 10/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh Lê Trung K yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị H. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập chị Trần Thị H nhưng chị Trần Thị H vẫn vắng mặt, cho thấy chị Trần Thị H không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân với anh Lê Trung K. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Lê Trung K và chị Trần Thị H đã trầm trọng, hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Lê Trung K được ly hôn với chị Trần Thị H.
[3.2] Về con chung: Anh Lê Trung K khai có 02 con chung tên Lê Thống N (nam), sinh ngày 28/4/2015 và Lê Hòa B (nam), sinh ngày 08/11/2016, con chung hiện nay đang sống với anh Lê Trung K. Anh Lê Trung K yêu cầu được nuôi con chung, chị Trần Thị H vắng mặt, từ bỏ quyền trình bày ý kiến quyền nuôi dưỡng con chung. Mặc khác, do cháu Lê Thống N và cháu Lê Hòa B là người khuyết tật nặng nên không thẻ lấy lời khai của các cháu, tuy nhiên, do 02 con chung đang do anh Kiên nuôi dưỡng nên để đảm bảo ổn định cuộc sống của các con chung, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho anh Lê Trung K tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Trần Thị H không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh Lê Trung K không có yêu cầu nên chị Trần Thị H không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Trung K khai không có nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Anh Lê Trung K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 267, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51; Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Trung K được ly hôn với chị Trần Thị H.
- Về con chung: Giao con chung tên Lê Thống N (nam), sinh ngày 28/4/2015 và Lê Hòa B (nam), sinh ngày 08/11/2016 cho anh Lê Trung K nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Trần Thị H không ai được quyền cản trở. Chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
- Về án phí: Anh Lê Trung K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh Lê Trung K đã nộp theo biên lai số 0004796 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Nguyên đơn anh Lê Trung K và bị đơn chị Trần Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đô |
4
Bản án số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 45/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
