|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 05 - 12 - 2025
V/v: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản khi ly hôn
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán: Đặng Thị Thu Hằng và bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Diệu Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 36/2025/TLPT-HNGĐ, ngày 06/10/2025, về việc kiện “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung khi ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 40/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 10/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 33/2025/QĐ-PT ngày 27/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Ngọc L, sinh năm 1986. Địa chỉ: 0 Đ, tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là 0 Đ, phường T, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Tấn L1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số B đường B, thôn G, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là Số B đường B, phường T, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Tấn L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc L trình bày:
Tôi và anh Võ Tấn L1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân, do bất đồng về tính cách, xung khắc nên thường cải vã, xích mích dẫn đến cuộc sống vợ chồng nặng nề không còn hòa hợp. Mặc dù hai người đã cố gắng khắc phục để hòa thuận nhưng không có kết quả và vợ chồng đã sống xa nhau từ tháng 10/2022 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn kéo dài, không còn sống chung với nhau, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Võ Tấn L1.
- Về con chung: Tôi và anh Võ Tấn L1 có 01 con chung là cháu Võ Phúc L2, sinh ngày 29/3/2014. Nay ly hôn, tôi xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Võ Phúc L2 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu anh Võ Tấn L1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi tạo lập được các tài sản sau:
+ Thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2065,9 m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 093171 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
+ Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619,5m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 092406 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 15/10/2021 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
+ Thửa đất số 96 (cũ 263A), tờ bản đồ số 35 (cũ 01), diện tích 425,7m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 536113 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cấp ngày 27/02/2024 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
+ Thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m²; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/4/2020 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
Tôi có nguyện vọng nhận thửa đất số 96 và 558, hai thửa còn lại thì giao cho anh Võ Tấn L1. Trường hợp anh L1 không đồng ý thì đề nghị Tòa án chia theo quy định pháp luật.
- Về nợ chung: Không có.
*/ Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Tấn L1 trình bày:
Tôi và cô Bùi Thị Ngọc L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 22/11/2010, theo giấy chứng nhận kết hôn số 119, quyển số 01/2010.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2022 đến nay vợ chồng đã sống xa nhau. Tuy nhiên tôi vẫn còn tình cảm với vợ con, muốn con cái sống trong sự đùm bọc của cả cha mẹ nên tôi không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, muốn hàn gắn gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Võ Phúc L2, sinh ngày 29/3/2014. Trường hợp bà L nhất quyết xin ly hôn thì tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có tạo lập được 04 thửa đất như trình bày của cô L. Về nguồn gốc hình thành và quá trình sử dụng các thửa đất cụ thể như sau: Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619,5m² và thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.065,9m² cùng tại xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk có nguồn gốc do mẹ tôi là bà Bùi Thị Nhĩ T cho vợ chồng tôi vào tháng 10/2021. Hai thửa đất này do cha mẹ tôi khai hoang và sử dụng từ trước năm 1975 đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau này do tuổi đã cao không thể tiếp tục canh tác, sử dụng nên mẹ tôi đã làm thủ tục tặng cho con. Từ khi nhận tặng cho hai thửa đất trên đến nay cô L không có bất cứ đóng góp công sức gì trên hai thửa đất này, tất cả các tài sản trên đất đều do tôi và gia đình tạo lập từ trước, cô L chỉ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, mẹ tôi tặng cho con hai thửa đất trên vào tháng 10/2021 thì đến tháng 10/2022 vợ chồng tôi đã không còn sống chung, hiện nay tôi và gia đình vẫn đang trực tiếp quản lý, sử dụng hai thửa đất này.
Đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 35, diện tích 425,7m² tại xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk và thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m² tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là do vợ chồng tự tạo lập được.
Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619,5m² và thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.065,9m² có nguồn gốc do mẹ tôi tặng cho và hiện nay gia đình tôi vẫn đang quản lý, sử dụng nên tôi có mong muốn được tiếp tục nhận quản lý, sử dụng hai thửa đất này. Giao cho cô L thửa đất số 96, tờ bản đồ số 35, diện tích 425,7m² và thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m² là tài sản do vợ chồng tạo lập được. Tôi đồng ý thanh toán phần giá trị chênh lệch của tài sản được nhận cho cô L.
Về nợ chung: Không có.
Tại bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 20/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 157, 165, 227, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 56, 59, 62 và Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Bùi Thị Ngọc L được ly hôn với ông Võ Tấn L1.
- Về con chung: Giao cháu Võ Phúc L2, sinh ngày 29/3/2014 cho bà Bùi Thị Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
- Về tài sản chung
Giao cho bà Bùi Thị Ngọc L được quyền quản lý, sử dụng tài sản gồm:
- Thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2065,9 m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 093171 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021; Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 492, dài 95,9m; Phía Đông giáp thửa đất số 33, dài 21,87m; Phía Nam giáp thửa đất số 40, dài 98,21m; Phía Tây giáp đường dài 20,88m; Trị giá cây trồng trên đất là 198.486.800 đồng, trị giá đất là 2.000.000.000 đồng. Tổng cộng là 2.198.486.800 đồng.
- Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619, 5m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 092406 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 15/10/2021; Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 554, 555, 556, 557 và phần đường quy hoạch, các cạnh dài 40,98m; Phía Đông giáp đường, cạnh dài 15m; Phía Nam giáp thửa đất số 62, một phần giáp đường quy hoạch, cạnh dài 41,751m; Phía Tây giáp thửa 38, cạnh dài 15m; Trị giá cây trồng trên đất là 49.729.800 đồng, trị giá đất là 1.900.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.949.729.800 đồng.
Tổng giá trị tài sản bà L được giao quản lý, sử dụng, định đoạt có giá trị là: 4.148.216.600 đồng.
Giao cho ông Võ Tấn L1 được quyền quản lý, sử dụng tài sản gồm:
- Thửa đất số 96 (cũ 263A), tờ bản đồ số 35 (cũ 01), diện tích 425, 7m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 536113 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cấp ngày 27/02/2024; Phần diện tích đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 329, 330, cạnh dài 10m; Phía Đông giáp thửa 341, cạnh dài 43,27m; Phía Nam giáp đường, cạnh dài 10m; Phía Tây giáp đường, cạnh dài 42,46m; Trị giá cây trồng trên đất là 7.721.800 đồng, trị giá đất là 2.400.000.000 đồng. Tổng cộng là 2.407.721.800 đồng.
- Thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m²; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/4/2020; Phần diện tích đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 928, dài 28,9m; Phía Đông giáp đường bê tông dài 05m; Phía Nam giáp thửa đất số 930, dài 28,9m; Phía Tây giáp thửa 13a, dài 05m; Trị giá hàng rào trên đất là 3.000.000 đồng, trị giá đất là 450.000.000 đồng. Tổng cộng là 453.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản ông L1 được giao quản lý, sử dụng, định đoạt có giá trị là: 2.860.721.800 đồng.
Buộc bà Bùi Thị Ngọc L phải thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho ông Võ Tấn L1 là: 643.747.400 đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất đối với khoản tiền chậm thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án.
Bà Bùi Thị Ngọc L và ông Võ Tấn L1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sang tên đối với phần đất mình được quản lý, sử dụng và định đoạt.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ông Võ Tấn L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/7/2025 bị đơn ông Võ Tấn L1 có đơn kháng cáo về phần tài sản chung, với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết phân chia lại tài sản chung của vợ chồng cụ thể: Giao cho ông L1 quyền sử dụng 02 thửa đất có nguồn gốc do mẹ ông L1 tặng cho gồm: Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619,5m² tại xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk; Thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.065,9m² tại xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk.
Giao cho bà Bùi Thị Ngọc L quyền sử dụng 02 thửa đất do vợ chồng tạo lập được, gồm: Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 35, diện tích 425,7m² tại xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk; Thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m² tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Hai bên sẽ có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị chênh lệch của tài sản được nhận cho nhau.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Võ Tấn L1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán và HĐXX phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự xét thấy toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn ông Võ Tấn L1 là có căn cứ, nên đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Tấn L1. Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk) theo hướng giao cho ông L1 quản lý, sử dụng thửa đất số 558, 493; giao cho bà L quản lý, sử dụng thửa đất số 96, 929. Ông L1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản chênh lệch cho bà L số tiền 643.747.400 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của đương sự được nộp trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về nội dung: Đối với kháng cáo của bị đơn ông Võ Tấn L1 về yêu cầu phân chia lại tài sản chung của vợ chồng. Hội đồng xét xử, thấy:
- [2.1] Về tài sản chung của vợ chồng: Bà Bùi Thị Ngọc L và ông Võ Tấn L1 đều thừa nhận vợ chồng ông, bà có các tài sản chung là:
- + Thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2065,9m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 093171 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
- + Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619,5m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 092406 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 15/10/2021 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
- + Thửa đất số 96 (cũ 263A), tờ bản đồ số 35 (cũ 01), diện tích 425,7m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 536113 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cấp ngày 27/02/2024 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
- + Thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m²; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/4/2020 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L.
- [2.2] Về nguồn gốc hình thành và quá trình sử dụng đất:
- + Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619,5m² và thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.065,9m² cùng toạ lạc tại xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk có nguồn gốc do mẹ ông L1 là bà Bùi Thị Nhĩ T cho vợ chồng ông L1, bà L vào tháng 10/2021. Theo đơn xác nhận ngày 15/10/2025 của Tổ trưởng tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Đắk Lắk xác nhận gia đình ông L1 đã sinh sống và xây dựng tài sản trên các thửa đất này từ năm 1975 đến nay. Ông L1, bà L kết hôn với nhau nhưng không sinh sống trên hai thửa đất này, từ năm 2022 khi vợ chồng ông L1, bà L không còn sống chung thì chỉ có ông L1 ở tại địa phương. Hiện nay, hai thửa đất trên do ông L1 đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
- + Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 35, diện tích 425,7m² toạ lạc tại xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk và thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m² toạ lạc tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là do vợ chồng ông L1, bà L nhận chuyển nhượng.
- [2.3] Xét thấy: Thửa đất số 558 và 493 có nguồn gốc do mẹ ông L1 là bà Bùi Thị Nhĩ T cho vợ chồng vào tháng 10/2021 nhưng vợ chồng ông L1, bà L không sinh sống trên hai thửa đất này, mặt khác từ tháng 10/2022 vợ chồng ông L1, bà L đã sống xa nhau cho đến nay, từ khi sống xa nhau chỉ có ông L1 ở tại địa phương. Ông L1 có đóng góp nhiều hơn trong việc tạo lập tài sản, hiện nay hai thửa đất trên vẫn đang do ông L1 trực tiếp quản lý, sử dụng, có xác nhận của địa phương.
Thửa đất số 96 và 929 có nguồn gốc do vợ chồng ông L1 bà L nhận chuyển nhượng, hiện tài sản vẫn đang được ông bà quản lý, sử dụng.
Vì vậy, Bản án sơ thẩm quyết định giao hai thửa đất số 96 và 929 có nguồn gốc do vợ chồng nhận chuyển nhượng cho ông L1 và giao hai thửa đất số 558 và 493 có nguồn gốc do mẹ ông L1 tặng cho vợ chồng cho bà L được quyền quản lý, sử dụng và định đoạt là chưa phù hợp.
- [2.4] Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy để đảm bảo được quyền lợi của cả hai bên, phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng đất và công sức đóng góp trong việc tạo lập tài sản chung của vợ chồng. Cần chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận kháng cáo của ông Võ Tấn L1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao cho ông Võ Tấn L1 hai thửa đất số 558 và 493 có nguồn gốc do mẹ ông L1 tặng cho vợ chồng, tổng giá trị tài sản ông L1 được giao quản lý, sử dụng, định đoạt là: 4.148.215.800 đồng; giao cho bà Bùi Thị Ngọc L hai thửa đất số 96 và 929 có nguồn gốc do vợ chồng nhận chuyển nhượng, tổng giá trị tài sản bà L được giao quản lý, sử dụng, định đoạt có giá trị là: 2.860.721.800 đồng. Ông L1 có trách nhiệm thanh toán chênh lệch về tài sản cho bà L số tiền 643.747.000 đồng. Áp dụng khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất đối với khoản tiền chậm thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án.
- [2.1] Về tài sản chung của vợ chồng: Bà Bùi Thị Ngọc L và ông Võ Tấn L1 đều thừa nhận vợ chồng ông, bà có các tài sản chung là:
- [3] Về án phí:
- [3.1] Án phí sơ thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận và sửa bản án phần tài sản chung nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch được tính lại, cụ thể như sau:
- - Ông Võ Tấn L1 được chia phần tài sản là 3.504.468.800 đồng, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần trị giá tài sản được chia là: 72.000.000 đồng + (1.504.468.800 đồng x 2%) = 102.089.000 đồng (làm tròn);
- - Bà Bùi Thị Ngọc L được chia phần tài sản có trị giá là 3.504.468.800 đồng, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần trị giá tài sản được chia là: 72.000.000 đồng + (1.504.468.800 x 2%) = 102.089.000 đồng (làm tròn).
- [3.2] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận và sửa bản án sơ thẩm nên ông L1 không phải chịu án phí phúc thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- [3.1] Án phí sơ thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận và sửa bản án phần tài sản chung nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch được tính lại, cụ thể như sau:
- [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Tấn L1; sửa Bản án sơ thẩm số: 105/2025/HNGĐ-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) về phần tài sản chung.
Áp dụng: Điều 33, Điều 56, Điều 57, Điều 59, Điều 62, Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 và Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn của bà Bùi Thị Ngọc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Ngọc L được ly hôn với ông Võ Tấn L1.
- Về con chung: Giao cháu Võ Phúc L2, sinh ngày 29/3/2014 cho bà Bùi Thị Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Ông Võ Tấn L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung:
- Giao bà Bùi Thị Ngọc L được quyền quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản gồm:
- - Thửa đất số 96 (cũ 263A), tờ bản đồ số 35 (cũ 01), diện tích 425,7m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 536113 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cấp ngày 27/02/2024 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L và toàn bộ tài sản trên đất. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 329, 330, cạnh dài 10m; Phía Đông giáp thửa 341, cạnh dài 43,27m; Phía Nam giáp đường, cạnh dài 10m; Phía Tây giáp đường, cạnh dài 42,46m.
- - Thửa đất số 929, tờ bản đồ số 27, diện tích 144,3m²; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 413466 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/4/2020 mang tên bà Đỗ Thị Xuân M, đăng ký biến động sang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L vào ngày 27/4/2022 và toàn bộ tài sản trên đất. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 928, dài 8,86m + giáp thửa 851, dài 05m + giáp thửa 850, dài 05m + giáp thửa 849, dài 05m + giáp thửa 848, dài 05m; Phía Đông giáp đường bê tông dài 05m; Phía Nam giáp thửa đất số 930, dài 28,9m; Phía Tây giáp thửa 13a, dài 05m.
- Giao ông Võ Tấn L1 được quyền quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản gồm:
- - Thửa đất số 493, tờ bản đồ số 13, diện tích 2065,9m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 093171 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L và toàn bộ tài sản trên đất. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 492, dài 95,9m; Phía Đông giáp thửa đất số 33, dài 21,87m; Phía Nam giáp thửa đất số 40, dài 98,21m; Phía Tây giáp đường dài 20,88m.
- - Thửa đất số 558, tờ bản đồ số 36, diện tích 619,5m²; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 092406 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 15/10/2021 mang tên ông Võ Tấn L1, bà Bùi Thị Ngọc L và toàn bộ tài sản trên đất. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp các thửa đất số 554, 555, 556, 557 và phần đường quy hoạch, tổng cạnh dài 40,98m; Phía Đông giáp đường, cạnh dài 15m; Phía Nam giáp thửa đất số 52, một phần giáp đường quy hoạch, tổng cạnh dài 41,75m; Phía Tây giáp thửa 36, cạnh dài 15m.
Bà Bùi Thị Ngọc L và ông Võ Tấn L1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các quyền về đất đai theo quy định của pháp luật.
- Ông Võ Tấn L1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản chênh lệch cho bà Bùi Thị Ngọc L số tiền là 643.747.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi ba triệu, bảy trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).
Áp dụng khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất đối với khoản tiền chậm thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án.
- Giao bà Bùi Thị Ngọc L được quyền quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản gồm:
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 10.000.000 đồng, bà Bùi Thị Ngọc L đã nộp tạm ứng và đã chi phí xong. Bà Bùi Thị Ngọc L và ông Võ Tấn L1, mỗi người phải chịu 5.000.000 đồng chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Bà Bùi Thị Ngọc L được nhận lại 5.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản sau khi thu được từ ông Võ Tấn L1.
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Bùi Thị Ngọc L đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0013838 ngày 17/10/2024 và 102.089.000 đồng (làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm về phần tài sản được chia, được khấu trừ vào số tiền 21.000.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Bùi Thị Ngọc L đã nộp (ông Đỗ Văn T1 nộp thay) theo biên lai thu số AA/2023/0012494 ngày 04/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, bà L còn tiếp tục phải nộp số tiền là 80.789. 000 đồng (T2 mươi triệu bảy trăm tám mươi chín ngàn đồng).
Bị đơn ông Võ Tấn L1 phải chịu 102.089.000 đồng (làm tròn) tiền án phí về phần tài sản được chia.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Tấn L1 không phải chịu án phí phúc thẩm và được nhận lại 300.000 đồng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000288 ngày 10/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
- Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Bùi Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Bùi Thị Ngọc L đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0013838 ngày 17/10/2024 và 102.089.000 đồng (làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm về phần tài sản được chia, được khấu trừ vào số tiền 21.000.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Bùi Thị Ngọc L đã nộp (ông Đỗ Văn T1 nộp thay) theo biên lai thu số AA/2023/0012494 ngày 04/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, bà L còn tiếp tục phải nộp số tiền là 80.789. 000 đồng (T2 mươi triệu bảy trăm tám mươi chín ngàn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Nguyên Tùng |
10
Bản án số 45/2025/HNGĐ-PT ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn và chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 45/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Ngọc L - Võ Tấn L
