Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 45/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 04/4/2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hồng;

Các Thẩm phán : Bà Đinh Thị Thu Hường; Bà Nguyễn Thanh Hà

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Quang Hòa– Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 04 năm 2025 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 165/2025/TLPT- HN&GÐ ngày 18 tháng 11 năm 2024. Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 671/2024/HN&GĐ-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 31/2025/QĐPT- HN&GÐ ngày 07/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Ánh N, sinh năm 1983; HKTT và nơi cư trú: số B, ngõ G A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trương Văn H, sinh năm 1981; HKTT: số B, ngõ G A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Hiện ở: Số A L, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

1

Nguyên đơn chị Phùng Ánh N trình bày: Chị và anh Trương Văn H kết hôn với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận H, tp Hà Nội ngày 17/5/2013. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại số B, ngõ G A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội cùng với bố mẹ chị. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016, 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Thời điểm đó anh H chơi cờ bạc, nợ nần, chị phải trả nợ thay cho anh H. Chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm để giải quyết mâu thuẫn, bất đồng nhưng không có kết quả. Hai bên gia đình nội ngoại đã động viên hòa giải nhưng mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng hơn. Anh H đã chuyển đi sinh sống ở nơi khác từ tháng 02/2024, ly thân từ đó đến nay, trong thời gian ly thân anh H không quan tâm gì đến vợ con. Do sợ ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình nên bố mẹ chị đã báo cáo chính quyền địa phương là không liên quan gì với anh H nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Trương Thành A, sinh ngày 17/02/2014 và Trương Minh T, sinh ngày 15/4/2016. Hai cháu A, T đều khỏe mạnh, phát triển bình thường. Chị xác nhận hiện tại không có thai. Ly hôn, chị xin nuôi 02 con chung, đề nghị anh H cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng cho 02 con.

Hiện tại chị đang công tác tại Viện khoa học công nghệ và kinh tế xây dựng H1, thu nhập hàng tháng khoảng 20 -30 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trương Văn H trình bày: Anh kết hôn với chị Phùng Ánh N là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận H, Hà Nội ngày 17/5/2013. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại số B, ngõ G A, phường M, quận H, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, không xảy ra vấn đề gì cả, không cãi lộn, vợ chồng không ly thân. Anh xác nhận, năm 2016 anh làm ăn với chị gái và có chơi tài chính, có bị thua lỗ nên chị N có trả nợ cho anh. Sau thời điểm đó, vợ chồng cùng làm ăn, sinh sống bình thường, đến nay vợ chồng không nợ nần ai. Từ tháng 02/2024, vợ chồng xảy ra va chạm, cãi vã nên anh chuyển ra ngoài sinh sống tại địa chỉ số B N, phường M, quận H để vợ chồng có thời gian suy nghĩ. Tuy nhiên, khi anh mới ra ngoài được 03 ngày thì bố mẹ chị N đã đến báo chính quyền địa phương, tổ dân phố là không còn liên quan gì đến anh nữa, ngoài ra chị N còn cấm đoán, không cho anh gặp các con. Nay chị N xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn do vẫn yêu vợ và thương các con, anh không muốn các con phải thiếu tình thương của bố, mẹ.

2

Về con chung: Anh và chị N có 02 con chung là Trương Thành A, sinh ngày 17/02/2014 và Trương Minh T, sinh ngày 15/4/2016. Hai cháu A, T đều khỏe mạnh, phát triển bình thường. Trường hợp ly hôn anh xin nuôi cả 02 con và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Hiện tại anh đang công tác tại Viện khoa học và công nghệ xây dựng H1, thu nhập hàng tháng của anh khoảng 05 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung và công nợ: Tại Đơn xin hoãn phiên tòa, anh H trình bày: quá trình tòa án thụ lý giải quyết chị N nói với anh sẽ chia và hỗ trợ cho anh số tiền 1 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn sau này nên vợ chồng anh đã không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và tự thương lượng với nhau. Nhưng sau đó chị N đã không giữ lời hứa với anh về tài sản nên anh H đề nghị Hội đồng xét xử xác minh, làm rõ về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 671/HNGĐ-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã Quyết định: Về hôn nhân: Chị Phùng Ánh N được ly hôn anh Trương Văn H;Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là Trương Thành A, sinh ngày 17/02/2014 và Trương Minh T, sinh ngày 15/4/2016. Giao cháu Trương Thành A cho anh Trương Văn H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.Giao cháu Trương Minh T cho chị Phùng Ánh N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Trương Văn H, chị Phùng Ánh N có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị N, anh H đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08/10/2024 nguyên đơn chị N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, về việc nuôi con chung. Chị N đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm về phần con chung, giao cả hai cháu Trương Thành A và cháu Trương Minh T cho chị trực tiếp chăm sóc với lý do hiện tại anh H không có khẳ năng về kinh tế để nuôi con. Thực tế hai cháu ở với chị và ông bà ngoại từ nhỏ đến nay, từ khi anh chị sống ly thân anh H không có trách nhiệm gì đối với việc trông nom chăm sóc hay cấp dưỡng nuôi con. Nếu được nuôi cả hai con chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con vì anh H hiện đang rất khó khăn về kinh tế.

3

Ngày 04/10/2024 bị đơn kháng cáo một phần bản án về phần tài sản chung, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc chị N phải thanh toán tài sản chung vợ chồng là tiền tại các tài khoản của Ngân hàng do chị N đang nắm giữ để anh còn nuôi con sau này.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không rút yêu cầu kháng cáo với lý do như đã trình bày ở trên. Bị đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để anh lấy tiền làm ăn và nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn sửa quyết định bản án sơ thẩm về phần con chung. Giao cả hai con chung là cháu Trương Thành A và Trương Văn H cho chị N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh H cho đến khi chị N có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về án phí: Chị N không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn nộp trong thời hạn kháng cáo và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là hợp lệ.

[2] Xét về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc xem xét lại về quyền nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét:

Chị Phùng Ánh N và anh Trương Văn H đăng ký kết hôn ngày 17/5/2013 tại UBND phường M, quận H, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp. Quá

4

trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, chị N kiên quyết xin ly hôn, anh H không đồng ý ly hôn và Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải theo đề nghị của anh H. Tuy nhiên, anh H lại không đến hòa giải với chị N, để thể hiện mong muốn khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Sau khi xử sơ thẩm, cho ly hôn cả hai anh chị không kháng cáo về phần phần tình cảm. Do vậy, HĐXX cấp phúc thẩm không xem xét lại phần tình cảm. Quá trình chung sống chị N và anh H có 02 con chung là Trương Thành A, sinh ngày 17/02/2014 và Trương Minh T, sinh ngày 15/4/2016; các con không bị nhược điểm về thể chất và tâm thần.

Xét việc kháng cáo xin nuôi cả hai con chung của chị H thấy: Hai con chung của anh chị hiện tại đang được ở cùng chị H và ông bà ngoại, do chị H chăm sóc từ nhỏ đến nay. Cháu A và cháu T đều có nguyện vọng tha thiết muốn được ở cùng nhau và ở cùng với chị N. Cả hai anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung, đây là nguyện vọng chính đáng của người làm cha mẹ tuy nhiên khi giao con vị thành niên cho ai trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cần xem xét về mọi mặt để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em. Hiện tại, các cháu đang có cuộc sống và học tập ổn định tại H, Hà Nội, chị N có công việc ổn định, có nơi ở cùng bố mẹ và làm việc vào giờ hành chính nên hoàn toàn có đủ điều kiện nuôi dưỡng tốt nhất cho cả hai con chung. Đối với anh H, qua các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời khai của anh tại Tòa án, hiện nay anh làm công việc tự do tại Hải Phòng, khi nào hết công trình anh sẽ đón cháu Thành A về Hải Dương là quê của anh, lúc đó anh sẽ xin việc mới để sinh sống và nuôi con tại Hải Dương. Như vậy, trên cơ sở xem xét điều kiện bảo đảm nuôi dưỡng con chung, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các con chung, tránh sự xáo trộn sinh hoạt và học tập của các cháu và để đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với các con theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn giao cả hai con chung của anh chị là cháu Thành A và cháu Minh T cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Trương Văn H về phần tài sản chung và nợ chung: Tại cấp sơ thẩm chị N không có yêu cầu tòa án xem xét về phần tài sản chung và nợ chung. Ngày 06/5/2024, Tòa án cấp sơ thẩm đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tại phiên họp anh H không đề nghị giải quyết về tài sản chung, công nợ. Sau đó, Tòa án đã ra thông báo mở lại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ 2 vào ngày 17/5/2024. Tại phiên họp ngày 17/5/2024 anh H vắng mặt không có lý do, Tòa án đã

5

lập biên bản không hòa giải được. Đến khi Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử và anh H xin hoãn phiên tòa thì anh H mới đề nghị giải quyết chia tài sản chung, công nợ. Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu chia tài sản chung, công nợ của anh H, giành quyền khởi kiện chia tài sản chung, công nợ sau ly hôn cho anh H trong vụ án khác nếu có căn cứ và có yêu cầu.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm anh H không xuất trình được thêm tài liệu chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của anh nên kháng cáo của bị đơn anh Trương Văn H không được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn sửa quyết định của bản án sơ thẩm sơ thẩm về phần nuôi dưỡng con chung.

[3] Án phí: Căn cứ Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2015

Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa một phần quyết định của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số số 671/HNGĐ-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông về phần con chung, cụ thể như sau:

  1. Về hôn nhân: Chị Phùng Ánh N được ly hôn anh Trương Văn H.
  2. Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là Trương Thành A, sinh ngày 17/02/2014 và Trương Minh T, sinh ngày 15/4/2016.

Giao cả hai cháu Trương Thành A và cháu Trương Minh T cho chị Phùng Ánh N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện chị N không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H đến khi chị N có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

6

Anh Trương Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giành quyền khởi kiện chia tài sản chung, công nợ sau ly hôn cho anh H, chị N trong vụ án khác nếu có căn cứ và có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Phùng Ánh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần ly hôn. Được đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0015121 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Tp ., nay chuyển thành án phí. Chị N không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho chị N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0044260 ngày 09/10/2025. Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Được đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 004452 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Tp . nay chuyển thành án phí. Anh H đã nộp đủ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày 04 tháng 4 năm 2025.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận Hà Đông, Hà Nội;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội
  • - UBND phường Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Thu Hồng

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HNGĐ-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 45/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger