|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45 /2025/DS-ST
Ngày: 27-5-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
Ông Nguyễn Văn Trình
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng là thư ký của Tòa án nhân dân
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà
Nẵng: Ông Nguyễn Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 281/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71a/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (OCB); Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà H, A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị B, chức vụ: Giám đốc Phòng G1 tháng 9 (theo Giấy ủy quyền số 15/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06-5-2024). Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Văn C, chức vụ: Nhân viên THN và bà Nguyễn Hoàng Khánh C1, chức vụ: Trưởng nhóm THN (theo Giấy ủy quyền số 1025/2024/UQ-OCB ngày 21/10/2024); Ông C, bà C1 có mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992; Cùng địa chỉ cư trú: Tổ H (cũ), tổ A (mới) phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Ông H và bà H1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2024 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng P), bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Hoàng Khánh C1 và ông Phạm Văn C trình bày:
Ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 đã ký kết với Ngân hàng TMCP P - Chi nhánh T1 – Phòng G2 Hợp đồng tín dụng số 0365/2017/HĐTD-CN ngày 01/09/2017 và Khế ước nhận nợ số 01.0365/2017-OCB/KU'NN-CN ngày 05/09/2017 để vay vốn tại O, chi tiết như sau: số tiền vay: 300.000.000 (Bằng chữ: Ba trăm triệu) đồng; mục đích vay: Thanh toán tiền mua bất động sản; thời hạn vay: 180 tháng; lãi suất vay: 10,5%/năm, lãi suất có điều chỉnh; lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Tài sản bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp số 0365/2017/BĐ ngày 01/09/2017 giữa Ngân hàng P với ông Vũ Văn H, bà Nguyễn Thị H1, số công chứng 1385 tại Văn phòng C2, thành phố Đà Nẵng là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 316 (nay là thửa đất số 29); tờ bản đồ số 20 (nay là tờ bản đồ số 124); tại địa chỉ: Tổ H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 620514, số vào số cấp GCN: CH00020 UBND quận C, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/01/2010, cập nhật chuyển nhượng cho ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 ngày 24/08/2017; tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0365/2017/HĐTD-CN ngày 01/09/2017 và Khế ước nhận nợ số 01.0365/2017-OCB/KU'NN-CN ngày 05/09/2017. Ông H và bà H1 không thanh toán tiền gốc và lãi hàng tháng cho ngân hàng theo cam kết.
Trong đơn khởi kiện, ngân hàng tính đến ngày 04/09/2024 tổng nghĩa vụ nợ của ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 tại Ngân hàng P phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 0365/2017/HĐTD-CN ngày 01/09/2017 là 165.488.825 đồng. Trong đó, nợ gốc là 161.390.000 đồng, nợ lãi 4.098.828 đồng. Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, ông H bà H1 đã thanh toán một phần nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Nay Ngân hàng P yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Yêu cầu Tòa án buộc ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán tổng số nợ của hợp đồng tín dụng số 0365/2017/HĐTD-CN ngày 01/9/2017 tính đến ngày 27/5/2025 là 152.776.003 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu, bảy trăm bảy mươi sáu ngàn không trăm lẻ ba đồng). Trong đó, nợ gốc là 147.921.927 đồng; lãi trong hạn là 548.243 đồng; lãi quá hạn 4.259.255 đồng và tiền phạt chậm trả lãi trong hạn 46.578 đồng.
- Yêu cầu ông H và bà H1 tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 28/5/2025 cho đến khi ông H và bà H1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng P.
- Trường hợp ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 0365/2017/BĐ ngày 01-09-2017, số công chứng 1385 tại Văn phòng C2, thành phố Đà Nẵng để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P theo quy định của pháp luật.
* Đối với bị đơn ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H và bà H1 không có mặt tại Tòa án và không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án. Sau khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông H và bà H1 vắng mặt.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đối với nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng P toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tính ngày 27/05/2025 là 152.776.003 đồng (trong đó: nợ gốc là 147.921.927 đồng; lãi trong hạn là 548.243 đồng, lãi quá hạn 4.259.255 đồng và tiền phạt chậm trả lãi trong hạn 46.578 đồng) và tiếp tục trả lãi cho cho ngân hàng từ ngày 28/5/2024 cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất tại hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Trường hợp ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 không trả được thì tài sản đã thế chấp được xử lý theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Các đương sự chịu án phí DSST và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- [1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/9/2024 thì nguyên đơn Ngân hàng P yêu cầu bị đơn ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 thanh toán số tiền nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 0365/2017/HĐTD-CN ký ngày 01/9/2017 và Khế ước nhận nợ số 01.0365/2017-OCB/KUNN-CN ngày 05/09/2017. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, quan hệ pháp luật là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng.
- [2] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 có địa chỉ cư trú tại tổ H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- [3] Bị đơn ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ hai nhưng ông H bà H1 vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến tiến hành xét xử vắng mặt ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1.
Về nội dung:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P đối với khoản tiền nợ gốc và nợ lãi:
[3.1] Các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình như Hợp đồng cho vay số 0365/2017/HĐTD-CN ký ngày 01/9/2017 và Khế ước nhận nợ số 01.0365/2017-OCB/KUNN-CN ngày 05/09/2017, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định: Ngày 01/9/2017, ông Vũ Văn H, bà Nguyễn Thị H1 và Ngân hàng P có ký kết Hợp đồng cho vay số 0365/2017/HĐTD-CN và Khế ước nhận nợ số 01.0365/2017-OCB/KUNN-CN ngày 05/09/2017 ; số tiền vay 300.000.000 đồng; mục đích vay là thanh toán tiền mua bất động sản; thời hạn vay: 180 tháng; lãi suất vay: áp dụng cố định trong 12 tháng đầu là 10.5%/năm (trên cơ sở tính 1 năm là 360 ngày), tương đương lãi suất vay trên cơ sở tính 1 năm là 365 ngày là 10.6458%/năm, với công thức quy đổi là (10.5% : 360 ngày) x 365 ngày, từ tháng 13 trở đi áp dụng lãi suất vay thả nổi điều chỉnh định 06 tháng/lần; phương thức vay: vay trả góp; trả nợ gốc: gốc trả đều hàng tháng, định kỳ vào ngày 16 hàng tháng; trả nợ lãi: Định kỳ vào ngày 16 hằng tháng trên dư nợ thực tế. Hợp đồng tín dụng được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự; hợp đồng có hình thức và nội dung phù hợp với Điều 117 Bộ luật Dân sự và các điều 23, 27 và 28 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch. Tuy khoản vay trên chưa đến hạn, nhưng trong quá trình thực hiện hợp
đồng, ông H và bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi được quy định tại khoản 10, 11 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng. Do đó, Ngân hàng P khởi kiện ông H và bà H1 thanh toán toàn bộ số tiền nợ trước hạn là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng.
[3.2] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông H và bà H1 trả cho Ngân hàng P số tiền nợ gốc, nợ lãi tính ngày 27/05/2025 là 152.776.003 đồng (trong đó: nợ gốc là 147.921.927 đồng; lãi trong hạn là 548.243 đồng, lãi quá hạn 4.259.255 đồng và tiền phạt chậm trả lãi trong hạn 46.578 đồng) và tiếp tục trả lãi tính từ ngày 28/5/2025 theo lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay đến khi ông H và bà H1 trả dứt điểm nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng là có cơ sở, phù hợp với quy định trong Hợp đồng cho vay số 0365/2017/HĐTD-CN ký ngày 01/9/2017 và Khế ước nhận nợ số 01.0365/2017-OCB/KUNN-CN ngày 05/09/2017, phù hợp với quy định tại Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông H và bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
[4.1] Để đảm bảo cho khoản vay, ông H và bà H1 đã thế chấp cho Ngân hàng P tài sản là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 124, diện tích 117 m², địa chỉ tại tổ H (cũ) nay là tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA620514, số vào sổ cấp GCN CH00020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 vào ngày 24/8/2017. Hợp đồng thế chấp này được ký kết dựa trên sự tự nguyện của các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C nên có hiệu lực thi hành theo quy định tại các điều 117, 298, 317, 401 Bộ luật Dân sự.
[4.2] Tại biên bản ghi kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/4/2025 đối với tài sản thế chấp thể hiện: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 124, diện tích 117 m2, địa chỉ tại tổ H (cũ) nay là tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA620514, số vào sổ cấp GCN CH00020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 ngày 24/8/2017. Trên thửa đất có xây dựng 01 ngôi nhà trệt có cấu trúc tường xây gạch trát vữa sơn vôi, nền gạch men, mái lợp tôn, có gác lửng. Ngôi nhà và thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường kiệt, phía Nam giáp đất trống, phía Đông giáp nhà ở, phía Tây giáp đường kiệt. Hiện nay nhà và đất do ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 quản lý, sử dụng.
[4.3]Trong trường hợp ông H bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là ngôi nhà và Quyền sử dụng đất nêu trên được xử lý theo quy định tại các Điều 299, 320, 323 Bộ luật Dân sự.
[4.4] Trường hợp ông H và bà H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng P thì Ngân hàng P có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông H và bà Hoa G chứng nhận đăng ký Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA620514, số vào sổ cấp GCN CH00020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 ngày 24/8/2017.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[6] Về án phí DSST:
[6.1] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông H và bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.638.800 đồng (Bảy triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn tám trăm đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6.2] Hoàn trả cho Ngân hàng P số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông H và bà H1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Buộc ông H và bà H1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng P số tiền 3.000.000 đồng mà Ngân hàng P đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điều 26, 35, 39, 157,158, 232, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 117, 298, 299, 317, 320, 323, 398, 401, 463, 466 Bộ luật Dân sự;
- - Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98, khoản 1 Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P đối với ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
- Buộc ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi tính ngày 27/05/2025 là 152.776.003 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn không trăm lẻ ba đồng). Trong đó, nợ gốc 147.921.927 đồng;
lãi trong hạn là 548.243 đồng; lãi quá hạn 4.259.255 đồng; phạt chậm trả lãi trong hạn 46.578 đồng.
- Ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0365/2017/HĐTD-CN ký ngày 01/9/2017 và Khế ước nhận nợ số 01.0365/2017-OCB/KUNN-CN ngày 05/09/2017, từ ngày 28/5/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP P.
- Trường hợp ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P thì Ngân hàng TMCP P có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông H và bà Hoa G chứng nhận đăng ký Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA620514, số vào sổ cấp GCN CH00020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 ngày 24/8/2017.
- Trường hợp ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là một ngôi nhà trệt có cấu trúc tường xây gạch trát vữa sơn vôi, nền gạch men, mái lợp tôn, có gác lửng và Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 124, diện tích 117 m², địa chỉ tại tổ H (cũ) nay là tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA620514, số vào sổ cấp GCN CH00020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 ngày 24/8/2017). Nhà và thửa đất có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường kiệt, phía Nam giáp đất trống, phía Đông giáp nhà ở, phía Tây giáp đường kiệt, theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0365/2017/BĐ ký ngày 01/9/2017 giữa Ngân hàng TMCP P với ông Vũ Văn H, bà Nguyễn Thị H1, số công chứng 1385 tại Văn phòng C2, thành phố Đà Nẵng được xử lý theo yêu cầu của Ngân hàng P để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định tại các Điều 299, 303, 320, 322, 323 Bộ luật Dân sự.
II. Án phí dân sự sơ thẩm và Chi phí tố tụng:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.638.800 đồng (Bảy triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn tám trăm đồng).
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P tiền tạm ứng án phí là 4.137.221 đồng (Bốn triệu một trăm ba mươi bảy nghìn hai trăm hai mươi mốt đồng), tại biên lai thu số 0009258 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000đồng (ba triệu đồng) ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu, nhưng Ngân hàng TMCP P đã tạm ứng trước nên ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
III. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 45/2025/DS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 45/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP P và ông Vũ Văn H, bà Nguyễn Thị H
