|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/DS-ST
Ngày: 23-5-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng cầm cố”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thúy Kiên
- Bà Thái Ánh Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 về Tranh chấp hợp đồng cầm cố theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 324/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 397/2025/QĐST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY.
Trụ sở chính: A N, Phường B, Thành phố V, Tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo pháp luật: KANOKWATPAISAL NAPAT – Chức vụ giám đốc.
Chi nhánh T1 5 - Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY.
Địa chỉ: Số H L, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có đơn xin xét xử
vắng mặt.
2/ Bị đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hoàng P trình bày:
Ngày 11/6/2021, Nguyễn Thị T có cầm cố tài sản với Chi nhánh T1 5 – CÔNG TY CỔ PHẦN SAWAD TIỀN CÓ NGAY (gọi tắt là Công ty cổ phần S).
Tài sản cầm cố là xe môtô honda, Winner, biển số xe 65F1-679.75, Số khung: RLHKC2600GY222021, Số máy: KC26E1058460, giấy chứng nhận đăng ký số 004307 do Công an quận T cấp ngày 25/5/2021.
Số tiền cầm cố là 17.800.000 với thời hạn cầm cố 18 tháng để phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh. Ngày giải ngân là 11/6/2021.
Lãi suất cầm cố bằng 1.1% số tiền cầm cố/tháng.
Lãi suất quá hạn: bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng, tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.
Phí mượn xe: 3% số tiền cầm cố/tháng.
Phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán: 8% giá trị vi phạm nghĩa vụ.
Phi tất toán hợp đồng trước thời hạn. 7% nợ gốc chưa thanh toán.
Chi phí tố tụng 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.
Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc, ngày 11/06/2021, Nguyễn Thị T đã có đơn xin mượn lại chiếc xe để phục vụ đi lại và cam kết theo theo nội dung đã ký trên hợp đồng, giấy mượn xe, thời gian mượn xe 01 (một) tháng, từ ngày 11/6/2021 đến ngày 11/7/2021.
Khi ký kết hợp đồng cầm cố tài sản, thì hai bên tiến hành lập hợp đồng cầm cố và Phiếu kiêm đăng ký hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe. Thể hiện nội dung, bên cầm cố tài sản đồng ý cho Chi nhánh TP. CẦN THƠ 5 - CÔNG TY CỔ PHẦN SAWAD TIỀN CÓ NGAY có quyền được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố và không hoàn trả hoa lợi, lợi tức.
Để đảm bảo cho hợp đồng cầm cố tài sản số OMM210601014NA16X, ngày 11/6/2021, T đã thế chấp chiếc xe biển số xe 65F1-679.75, Tài sản này đã được Công ty cổ phần S đăng ký giao dịch tài sản đảm bảo trên hệ thống trực tuyến của Cục Đ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, T chỉ thanh toán cho Công ty cổ phần S một lần gồm gốc, lãi và phí quản lý hồ sơ cố định. Đồng thời, không thực hiện đúng nghĩa vụ mượn xe và đã hết thời hạn mượn xe nhưng không bàn giao xe cho Công ty cổ phần S.
Nay, Công ty cổ phần S yêu cầu:
Yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả lại chiếc xe mô tô 65F1-679-75. Trường hợp bà T không trả lại xe thì phải có trách nhiệm thanh
toán số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 06/11/2024 là 65.072.582 đồng. Trong đó: Tiền gốc: 16.570.265 đồng; Tiền lãi trong hạn: 1.757.733 đồng; Phí quản lý hồ sơ cố định: 7.190.644 đồng; Tiền lãi quá hạn 39.553.941 đồng. Ngoài ra, bà T phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên cho Công ty Cổ phần S Có Ngay được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty. Buộc bà T phải chịu mọi chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp xác minh khách hàng có dấu hiệu hình sự, Công ty đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ qua cơ quan cảnh sát điều tra nơi có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Có đơn trình bày do bị đơn không hợp tác, cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên đề nghị Tòa án xét xử theo chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Đồng thời cũng xác định lại nội dung khởi kiện là Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY đề nghị bị đơn thanh toán tiền với các khoản sau, tạm tính đến ngày 06/11/2024: Tiên gốc: 16.570.265 đồng; Tiền lãi trong hạn: 1.757.733 đồng; Tiền lãi quá hạn 39.553.941 đồng.
Nguyên đơn rút các yêu cầu khởi kiện: Phí quản lý hồ sơ cố định: 7.190.644 đồng; Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên cho Công ty Cổ phần S Có Ngay được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty. Buộc bà T phải chịu mọi chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp xác minh khách hàng có dấu hiệu hình sự, Công ty đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ qua cơ quan cảnh sát điều tra nơi có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
Về phía bị đơn, Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh cư trú, thể hiện bị đơn có đăng ký cư trú tại Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, hiện tại không có mặt tại địa phương, không thông báo cho địa phương thông tin cư trú mới. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định.
Đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử vụ án; Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng dân sự thì các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Về nợ: Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tạm tính đến ngày 06/11/2024 là 57.881.939 đồng. Trong đó: Tiên gốc: 16.570.265 đồng; Tiền lãi trong hạn: 1.757.733 đồng; Tiền lãi quá hạn 39.553.941 đồng.
Bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố, phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ngày 11/6/2021, kể từ ngày 07/11/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Sau khi bà Nguyễn Thị T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 004307 do Công an quận T cấp ngày 25/5/2021 cho bà Nguyễn Thị T.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị T phải nộp số tiền 2.894.097 (hai triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn không trăm chín mươi bảy) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.626.000 (một triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002503 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Đình chỉ xét xử các yêu cầu: Phí quản lý hồ sơ cố định: 7.190.644 đồng; Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên cho Công ty Cổ phần S Có Ngay được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty. Buộc bà T phải chịu mọi chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp xác minh khách hàng có dấu hiệu hình sự, Công ty đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ qua cơ quan cảnh sát điều tra nơi có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Tòa án đã tống đạt, niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định đối với bị đơn nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng cầm cố, phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố, ký giấy mượn xe cùng ngày 11/6/2021. Phía bị đơn không có đăng ký kinh doanh, không thực hiện việc trả nợ gốc, nợ lãi, các khoản phí tại hợp đồng cầm cố, phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe nên đã phát sinh tranh chấp. Do vậy, cần xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là Tranh chấp hợp đồng cầm cố theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn quận T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng Cầm cố số OMM210601014NA16X, phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe cùng ngày 11/6/2021. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên có đủ năng lực hành vi dân sự, đã tự nguyện ký kết, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với những quy định về nội dung, hình thức hợp đồng được quy định tại các Điều 117, 309, 310 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đã có hiệu lực pháp luật.
[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi ký hợp đồng cầm cố, phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe thì bị đơn không hợp tác, cố tình trốn tránh nghĩa vụ, không thanh toán cho nguyên đơn. Do đó, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ về thời hạn thanh toán tại mục 2, 3 của Hợp đồng cầm cố, mục 4.II của phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe ngày 11/6/2021. Do đó, cần buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiền cho nguyên đơn theo yêu cầu của nguyên đơn.
[3.2] Căn cứ mục 2, 3 của Hợp đồng cầm cố, mục 4.II của phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe ngày 11/6/2021, Hội đồng xét xử nhận thấy, các bên đã tự nguyện ký kết lãi suất, các khoản phí phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tạm tính đến ngày 06/11/2024: Tiên gốc: 16.570.265 đồng; Tiền lãi trong hạn: 1.757.733 đồng; Tiền lãi quá hạn 39.553.941 đồng. Tổng cộng bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền là 57.881.939 đồng.
Bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố, phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố, giấy mượn nợ kể từ ngày 07/11/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Sau khi Nguyễn Thị T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 004307 do Công an quận T cấp ngày 25/5/2021 cho bà T.
[4] Bị đơn có đăng ký cư trú tại Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, hiện tại không có mặt tại địa phương, nhưng không thông báo nơi cư trú, làm việc mới cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật dân sự năm 2015, hội đồng xét xử xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ nên tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[5] Đối với việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện:
Phí quản lý hồ sơ cố định: 7.190.644 đồng; Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên cho Công ty Cổ phần S Có Ngay được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty. Buộc bà T phải chịu mọi chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp xác minh khách hàng có dấu hiệu hình sự, Công ty đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ qua cơ quan cảnh sát điều tra nơi có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
Việc rút các yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự và đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu này.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tính trên số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại cơ quan thi hành án dân sự quận T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 144, 147, 227, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 309, 310 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY.
1/ Về nợ:
Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tạm tính đến ngày 06/11/2024 là 57.881.939 đồng. Trong đó: Tiên gốc: 16.570.265 đồng; Tiền lãi trong hạn: 1.757.733 đồng; Tiền lãi quá hạn 39.553.941 đồng.
Bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố, phiếu đăng ký kiêm hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ngày 11/6/2021, kể từ ngày 07/11/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Sau khi bà Nguyễn Thị T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 004307 do Công an quận T cấp ngày 25/5/2021 cho bà Nguyễn Thị T.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
bà Nguyễn Thị T phải nộp số tiền 2.894.097 (hai triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn không trăm chín mươi bảy) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Công ty cổ phần S TIỀN CÓ NGAY được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.626.000 (một triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002503 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
3/ Đình chỉ xét xử các yêu cầu: Phí quản lý hồ sơ cố định: 7.190.644 đồng; Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên cho Công ty Cổ phần S Có Ngay được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty. Buộc bà T phải chịu mọi chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp xác minh khách hàng có dấu hiệu hình sự, Công ty đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ qua cơ quan cảnh sát điều tra nơi có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
5/ Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Văn Cần |
Bản án số 45/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng cầm cố
- Số bản án: 45/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S
