|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/DS-ST Ngày: 21-3-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Kiên
2. Ông Nguyễn Thanh Văn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 630/2024/TLST-DSĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N (tên viết tắt: A)
- Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1977
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Trung D, sinh năm 1979
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1973
- Anh Trần Kế T2, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thành C, chức vụ: Giám đốc chi nhánh huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Đoàn Phú T, chức vụ: Trưởng phòng khách hàng – Chi nhánh huyện G
Theo văn bản ủy quyền ngày 17-9-2024.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-9-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đoàn Phú T - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27-12-2023, Ngân hàng N – Chi nhánh huyện G (viết tắt là A - chi nhánh G) và anh Trần Văn T1 có ký Hợp đồng tín dụng số 5703LAV202305264 để vay số tiền 810.000.000 đồng. Hai bên có thỏa thuận lãi suất vay là 9%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn, thời hạn cho vay là 06 tháng và các thỏa thuận khác được ghi trong Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5703-LDS-200400001 ngày 02-01-2024. Để đảm bảo cho khoản vay, A - chi nhánh G và anh T1 ký hợp đồng thế chấp số 1308/2020/HĐTC ngày 13-11-2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 1308/2020/HĐSĐBS-02 ngày 27-12-2023. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 589 m² thuộc thửa đất số 3702, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh và tài sản trên đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02730/QSDĐ/308/2003/QĐ-CT cấp ngày 10-01-2004 do anh T1 đứng tên và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khu vực ngoài đô thị số 009/CNSH cấp ngày 22-8-1998 do anh T1 đứng tên.
Do anh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo thỏa thuận nên ngày 27-6-2024, Ngân hàng đã chuyển quá hạn cho anh T1. Từ khi nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và yêu cầu trả nợ nhưng anh T1 không trả. Nên A khởi kiện yêu cầu anh T1 phải trả tổng số tiền tính đến ngày 21-3-2025 là 896.420.358 đồng, trong đó: Nợ gốc 810.000.000 đồng và nợ lãi là 86.420.358 đồng. Và yêu cầu tính lãi cho đến khi anh T1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ.
Trường hợp anh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, yêu cầu Toà án xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thi hành án, đồng thời ưu tiên thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ của Hợp đồng tín dụng đã ký với A.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04-12-2024, bị đơn anh Trần Văn T1 trình bày:
Anh thừa nhận có vay của A - chi nhánh G số tiền nợ gốc là 810.000.000 đồng. Hai bên có thỏa thuận tiền lãi và thời hạn trả nợ theo hợp đồng đã ghi. Khi vay, anh có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở do anh đứng tên và hai bên có ký hợp đồng thế chấp. Sau khi vay, anh có trả lãi cho A nhưng trả đến khi nào thì anh không nhớ. Nay anh đồng ý trả nợ theo yêu cầu của A về nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ. Đối với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, anh không có ý kiến. Ngoài ra, anh không trình bày gì thêm.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17-12-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị H trình bày:
Chị không biết anh T1 có vay tiền và thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho A. Hiện nhà đất do chị, anh Trần kế T2 và anh Trần Trung D đang ở và quản lý. Đối với yêu cầu của A, chị không có ý kiến.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28-12-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần kế T2 trình bày:
Anh có biết việc anh Trần Văn T1 vay tiền của A. Và anh cũng biết anh T1 có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh do anh T1 đứng tên cho A. Đối với yêu cầu trả nợ của A, anh không có ý kiến. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, anh đề nghị cho thêm thời gian để anh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ do giá trị tài sản thế chấp lớn hơn số tiền còn nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Trung D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nộp cho Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A). Buộc anh Trần Văn T1 có trách nhiệm trả cho A số tiền nợ gốc là 810.000.000 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày 21-3-2025 là 86.420.358 đồng.
- Trường hợp anh T1 không trả được nợ thì A được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ.
- Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa, ông Đoàn Phú T, anh Trần Văn T1, anh Trần Kế T2, chị Trần Thị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, còn anh Trần Trung D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Thực tế, ngày 27-12-2023, A và anh Trần Văn T1 có ký hợp đồng tín dụng số 5703-LAV-202305264 với số tiền vay là 810.000.000 đồng. Mục đích vay để mua bán lúa. Tại Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5703-LDS-202400001 ngày 02-01-2024, hai bên thỏa thuận thời hạn vay: 06 tháng, lãi suất: 9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, kỳ hạn trả lãi: 01 tháng/1 kỳ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T1 không thanh toán lãi và nợ gốc
đúng thoả thuận trong hợp đồng. A đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 27-6-2024 và làm việc nhiều lần nhưng anh T1 vẫn không thanh toán nợ.
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với tiền nợ gốc, lãi thì thấy:
Sau khi giải ngân số tiền vay, anh T1 không thực hiện việc thanh toán lãi và nợ gốc như đã thoả thuận. Tính đến ngày 21-3-2025, anh T1 còn nợ số tiền 896.420.358 đồng, trong đó: Nợ gốc 810.000.000 đồng và nợ lãi là 86.420.358 đồng.
Qua thu thập chứng cứ, anh T1 thừa nhận còn nợ A số tiền vay gốc 810.000.000 đồng và tiền lãi. Anh T1 đồng ý trả cho A. Do đó, căn cứ các điều khoản mà hai bên đã ký kết Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A, buộc anh T1 phải thanh toán cho A số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 21-3-2025 là 896.420.358 đồng theo quy định tại các điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.
[2.2] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng cấp tín dụng số 5703-LAV-202305264 ngày 27-12-2023, anh T1 có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 589 m² thuộc thửa đất số 3702, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02730 cấp ngày 10-01-2004 do anh T1 đứng tên và tài sản trên đất là Nhà cấp 3 diện tích 316 m², kết cấu: móng bê tông cốt thép (viết tắt là BTCT), tường BTCT, cột BTCT, mái BTCT, nền G.CeRaMic, cửa sắt kính, trần BTCT; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khu vực ngoài đô thị số 009/CNHS cấp ngày 22-8-1998 do anh T1 đứng tên theo hợp đồng thế chấp số 1308/2020/HĐTC ngày 13-11-2020 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 1308/2020/HĐSĐBS-02 ngày 27-12-2023, hiện anh Trần Trung D, anh Trần Kế T2 và chị Trần Thị H (chị em ruột của anh T1) đang quản lý.
Qua thu thập chứng cứ, anh T2 thừa nhận có biết việc anh T1 vay tiền và thế chấp tài sản nói trên cho A, anh yêu cầu chờ anh T1 về xử lý khoản nợ. Còn chị H và anh D thì không có ý kiến đối với yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm của A.
Xét thấy: tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đều do anh T1 đứng tên. Anh Dũng, chị H, anh T2 đều không có tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nói trên. Và Hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hợp đồng được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp anh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, A có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định tại các điều 299, 323 của Bộ luật Dân sự.
[3] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên anh T1 phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 299, 317, 318, 323 của Bộ luật Dân sự; các điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với anh Trần Văn T1 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Trong trường hợp anh T1 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 5703-LAV-202305264 ngày 27-12-2023 thì A có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 589 m² thuộc thửa đất số 3702, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02730 cấp ngày 10-01-2004 do anh T1 đứng tên và tài sản trên đất là Nhà cấp 3 diện tích 316 m², kết cấu: móng bê tông cốt thép (viết tắt là BTCT), tường BTCT, cột BTCT, mái BTCT, nền G.CeRaMic, cửa sắt kính, trần BTCT; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khu vực ngoài đô thị số 009/CNHS cấp ngày 22-8-1998 do anh T1 đứng tên theo hợp đồng thế chấp số 1308/2020/HĐTC ngày 13-11-2020 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 1308/2020/HĐSĐBS-02 ngày 27-12-2023 theo quy định của pháp luật. A được ưu tiên thanh toán từ tài sản thế chấp.
- Về án phí sơ thẩm: Anh T1 phải chịu số tiền 38.892.600(Ba mươi tám triệu tám trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm) đồng.
Buộc anh Trần Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 21-3-2025 là 896.420.358 (T3 trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn ba trăm năm mươi tám) đồng, trong đó: Nợ gốc 810.000.000 (Tám trăm mười triệu) đồng, nợ lãi là 86.420.358 (Tám mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn ba trăm năm mươi tám) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Hoàn trả cho A số tiền 16.603.877 (Mười sáu triệu sáu trăm lẻ ba nghìn tám trăm bảy mươi bảy) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000862 ngày 19-11-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Cương |
Bản án số 45/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 45/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng giữa Agribank và Trần Văn Trung
