|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/DS-PT Ngày 05 tháng 6 năm 2025 V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà và bà Nguyễn Thị Minh Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 10/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc: Tranh chấp chia thừa kế tài sản, do bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bị kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 51/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M (T), sinh năm 1952. (Có mặt);
Nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái. - Bị đơn:
- Bà Phạm Thị T1 (Viện), sinh năm 1958. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. - Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1970. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bà Phạm Thị T1 (Viện), sinh năm 1958. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị N (N1), sinh năm 1951. (Có mặt);
Nơi cư trú: thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. - Bà Phạm Thị S (Đ), sinh năm 1944. (Có mặt);
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. - Bà Phạm Thị Q (K), sinh năm 1962. (Có mặt);
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. - Bà Phạm Thị Á, sinh năm 1968. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: xóm C, thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Bà Phạm Thị N (N1), sinh năm 1951. (Có mặt);
Ngoài ra, vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Uỷ ban nhân dân (UBND) xã N, chị Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Văn V1, chị Phạm Thị T2, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn Đ1. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này không có kháng cáo, nội dung kháng nghị không liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ nên Toà án không triệu tập đến tham gia phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, theo Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị M (T) trình bày: Bố bà là cụ Phạm Văn L, chết năm 1996; mẹ bà là cụ Nguyễn Thị T3, chết năm 2002. Khi chết, cụ L và cụ T3 không để lại di chúc. Hai cụ sinh được 07 người con, gồm: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị S, bà Phạm Thị N, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị Q, bà Phạm Thị Á và bà Phạm Thị M1.
Khi còn sống cụ L và cụ T3 tạo lập được khối tài sản chung là 03 thửa đất, gồm: Thửa số 4460 tờ bản đồ số 05, diện tích 196 m² đất ao; thửa số 4462, diện tích 243 m² đất ao; thửa số 4461 diện tích 648 m² đất ở. Tài sản trên đất là 01 ngôi nhà mái lợp rạ. Sau khi hai cụ chết, khoảng năm 2012 chị em các bà sửa nhà lợp rạ thành nhà lợp ngói, người đứng ra chủ trì việc sửa nhà này là ông Phạm Vũ N1 - chồng bà N. Đến năm 2019, bà Á xây 01 nhà thờ diện tích khoảng 35m² trên diện tích đất khoảng 200 m². Toàn bộ các tài sản này có địa chỉ tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và đang do bà M1 và bà T1 quản lý, sử dụng. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo bản đồ và sổ mục kê năm 1990 thì toàn bộ diện tích đất trên mang tên cụ Phạm Văn L. Nay bà M không yêu cầu chia di sản đối với 01 nhà thờ khoảng 35m² trên diện tích đất khoảng 200 m². Diện tích đất còn lại bà đề nghị Toà án chia di sản thừa kế theo pháp luật cho 07 chị em các bà. Bà M đề nghị Tòa án chia 05 suất thừa kế của bà M, bà N, bà S, bà Q và bà Á vào 01 khu liền nhau mục đích là 05 chị em bà góp đất chung với diện tích đất đã xây nhà thờ để mở rộng thêm khuôn viên nhà thờ. Bà M không có ý kiến, đề nghị gì đối với các tài sản trên đất của bà T1 và của bà M1. Theo bà, bà M1 và bà T1 trình bày cụ T3 có Di chúc để lại toàn bộ diện tích đất của cụ L và cụ T3 cho bà M1 và bà T1 là không đúng, bà bác bỏ ý kiến này và bà yêu cầu Toà án tuyên bố di chúc này vô hiệu.
* Tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn là bà Phạm Thị T1 và bà Phạm Thị M1 trình bày: Về quan hệ huyết thống và hàng thừa kế trong gia đình bà đúng như bà M trình bày: Tuy nhiên, bà T1 và bà M1 đều không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M vì toàn bộ diện tích đất mà bà M yêu cầu chia thừa kế thì khi còn sống cụ T3 đã viết di chúc (đơn xin chuyển nhượng đất cho người thừa kế) để lại cho bà T1 cùng chồng là ông V2 một nửa diện tích đất của cụ L và cụ T3, một nửa đất còn lại của hai cụ thì cho bà M1. Lý do cụ T3 di chúc cho đất hai bà là vì khi chồng bà T1 (ông V2) đi bộ đội về thì vợ chồng bà T1 không có chỗ ở và bà M1 không có chồng, con. Giấy chuyển nhượng đất cho người thừa kế được cụ T3 lập có xác nhận của trưởng thôn và UBND xã N. Sau khi cụ T3 cho đất thì vợ chồng bà T1 đã xây nhà ở ổn định từ năm 1999 đến nay. Đối với 01 nhà lợp rạ mà hai cụ để lại thì bà M1 sử dụng nhưng đã quá dột nát nên khoảng năm 2010 UBND xã N có chương trình xoá nhà dột nát và xã đã ủng hộ bà M1 số tiền 7.000.000 đồng và cho bà M1 vay thêm số tiền 8.000.000đồng để bà M1 xây nhà lợp ngói như hiện nay, tuy nhiên nhà ngói này cũng đã cũ và dột nát. Ranh giới phân biệt giữa đất nhà bà T1 và đất nhà bà M1 là 01 bức tường dậu do bà T1 xây. Bà T1, bà M1 cho rằng hai bà đã sinh sống ổn định trên diện tích đất mà cụ T3 đã cho và hàng năm hai bà đều đóng thuế nhà đất cho nhà nước đầy đủ nên diện tích đất cụ T3 đã cho bà T1 thì bà T1 được sử dụng và diện tích đất cụ T3 đã cho bà M1 thì bà M1 được sử dụng, nay hai cụ không còn di sản gì để chia. Bà M1 và bà T1 yêu cầu Toà án chia di sản theo di chúc của cụ T3. Ngoài ra, gia đình bà T1, bà M1 còn bị quy đổi đất hai lúa về đất vườn tạp và thổ theo quy định của nhà nước vì thế bà T1, bà M xác định đây là tài sản của hai nên hai bà đều không yêu cầu tính công sức trông nom, tu bổ, cải tạo di sản. Năm 2019, bà Phạm Thị Ất T4 bỏ tiền ra xây 01 nhà thờ diện tích khoảng hơn 20m² trên phần đất của bà M1 được cho theo di chúc. Nếu sau này mà bà T1 và bà M1 không được nhận toàn bộ diện tích đất mà cụ T3 đã cho 02 bà theo di chúc mà buộc phải chia tài sản của hai cụ cho các chị em thì bà T1, bà M1 đề nghị Toà án chia cả phần đất do bà Á đã xây nhà thờ nhưng chia cho 05 bà là bà Á, M, Q, S, N. Bà T1 không yêu cầu chia bất cứ di sản nào của ông V2 để lại.
* Quá trình tố tụng tại Tòa án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến, quan điểm như sau:
- Bà Phạm Thị N, bà Phạm Thị S, bà Phạm Thị Q đều trình bày: Các bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M. Bà N, bà S, bà Q đều khẳng định năm 2019 bà Á bỏ tiền ra xây 01 nhà thờ diện tích khoảng 35 m² xây trên diện tích đất khoảng 200m², các bà đều không yêu cầu chia di sản đối với tài sản này. Diện tích đất còn lại các bà đề nghị Toà án chia di sản thừa kế theo pháp luật cho 07 chị, em. Các bà nghị Tòa án chia 05 suất thừa kế của bà M, bà N, bà S, bà Q và bà Á vào 01 khu liền nhau để các bà góp chung với diện tích đất nhà thờ để mở rộng khuôn viên nhà thờ. Còn việc bà M1 và bà T1 trình bày là cụ T3 có để lại di chúc cho toàn bộ đất của cụ L và cụ T3 cho bà T1 và bà M1 là không đúng, các bà đều bác bỏ ý kiến này và yêu cầu Toà án tuyên bố di chúc này vô hiệu.
- Bà Phạm Thị Á trình bày: Năm 2019 bà có bỏ tiền ra xây 01 nhà thờ diện tích khoảng 35m² trên diện tích đất khoảng 200 m². Nay bà không có yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền bà đã bỏ ra để xây nhà thờ. Bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà M. Bà không yêu cầu chia di sản đối với 01 nhà thờ khoảng 35 m² trên diện tích đất khoảng 200 m². Diện tích đất còn lại chia đều cho 06 chị em của bà, bà từ chối nhận di sản thừa kế và từ chối tham gia tố tụng tại Toà án. Bà đề nghị Toà án không triệu tập bà tham gia tố tụng nữa vì bà ở xa (tỉnh Nam Định) đi lại rất khó khăn. Tuy nhiên nếu bà T1 và bà M1 yêu cầu chia di sản đối với 200m² đất – trong đó bà đã xây nhà thờ trên đó thì bà đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của bố mẹ bà theo quy định của pháp luật và đồng ý với quan điểm của bà M là không chia tách riêng di sản của 05 bà M, N, S, Q và bà mà chia gộp di sản các bà được nhận vào một phần để thuận tiện cho sau này các bà xây nhà thờ được rộng lớn. Đối với đơn đề nghị giao đất cho người thừa kế đề ngày 11/5/99 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N, bà Á không công nhận đơn này là di chúc của mẹ bà để lại và cũng yêu cầu Toà án tuyên bố di chúc này vô hiệu.
- Anh Nguyễn Văn V1 trình bày: Anh là con trai của ông V2 và bà T1, là cháu ngoại của cụ L và cụ T3. Ông T1 chết năm 2020, cụ L chết năm 1996 đều không để lại di chúc, cụ T3 chết năm 2002 có để lại di chúc nội dung di chúc là cho bà T1 với ông V2, bà M1 mỗi người một nửa diện tích đất của cụ L và cụ T3. Khi cụ T3 để lại di chúc cho đất thì trên đất chỉ có 03 gian nhà lợp rạ và 01 gian bếp làm bằng đất lợp rạ, ngoài ra hai cụ không còn di sản gì nữa. Sau khi cho thì phần nhà và bếp thuộc phần bà M1 thì bà M1 quản lý, sử dụng. Đến năm 2010 bà M1 được UBND xã cho tiền xây nhà nên bà M1 đã dỡ bỏ mái rạ lợp lại mái ngói và làm bếp mới. Phần đất hai cụ cho vợ chồng bà T1 thì không có tài sản gì trên đất. Ông V2, bà T1 cùng với các con là anh V1, chị V, chị H và cháu V1 con của chị V sinh sống trên diện tích đất mà cụ T3 cho từ năm 1999 đến nay. Quá trình sử đất gia đình anh xây nhà bằng gạch lợp mái rạ sau đó nhà xuống cấp nên rỡ mái rạ lợp mái ngói và có xây thêm nhà ở phía sau như hiện trạng đang sử dụng. Trong suốt quá trình bà M1 sử dụng phần đất của bà M1 được cho, bà M1 có dỡ mái rạ làm lại mái ngói. Năm 2018, gia đình anh xây nhà, sửa nhà có xây 01 bức tường làm ranh giới phân biện giữa phần đất của gia đình anh và phần đất của bà M1, khi đó không ai có ý kiến gì về việc này. Đến nay bà M mới làm đơn chia thừa kế. Anh là người ở cùng với ông V2 bà T1 kể từ khi ông V2 bà T1 chuyển về diện tích đất được cụ T3 cho từ năm 1999 đến năm 2009 thì anh lấy vợ là chị Phạm Thị T2, sinh năm 1985, địa chỉ thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và vợ chồng anh ở trên đất từ khi lấy nhau cho đến nay. Quá trình chung sống anh cùng bố mẹ anh tạo lập nên toàn bộ khối tài sản trên đất như hiện trạng đang sử dụng nhưng chủ yếu là công sức của vợ chồng anh còn bố mẹ anh già yếu chỉ có công trông nom phụ giúp vợ chồng anh mà thôi. Ngoài ra để giữ được diện tích đất như hiện tại thì bố mẹ anh, anh, chị H, chị V, cháu Đ1 đều bị quy đổi từ đất hai lúa về ao, vườn theo quyết định 652 và 948, diện tích bị trừ bao nhiêu anh không nhớ. Đối với tài sản trên đất là do công sức của gia đình anh gồm bố, mẹ và vợ chồng anh tạo dựng nên gia đình có quyền tiếp tục sử dụng, còn đối với diện tích đất quy đổi từ đất hai lúa về đất ao, vườn anh nhường hết cho bà T1 sử dụng anh không có yêu cầu chia. Chị V, chị H, cháu Đ1 cùng thống nhất là nhường hết lại cho mẹ anh là bà T1 quản lý, sử dụng không ai có yêu cầu chia. Đối với di sản của ông V2 – bố anh để lại thì anh và chị H, chị V, bà T1 mẹ anh cũng không yêu cầu chia, tất cả mọi người đều nhường hết lại cho bà T1 sử dụng.
- Chị V, chị H, anh Đ1 đều có văn bản trình bày, nội dung thể hiện chị V, chị H là con gái của ông V2 bà T1, anh Đ1 là con của chị V, là cháu ngoại của ông V2 bà T1. Các anh, chị có thời gian chung sống cùng ông V2 bà T1 và đều bị khấu trừ ruộng hai lúa ngoài đồng để đổi lấy đất vườn, ao. Nay bà M có yêu cầu chia thừa kế đối với toàn bộ diện tích mà cụ T2 đã cho ông V2 bà T1 và bà M1, chị V, chị H không có yêu cầu chia di sản của ông V2 là đất được cụ T2 di chúc cho, chị V và chị H nhường lại hết cho bà T1 sử dụng; chị V, chị H, anh Đ1 đều đồng ý để lại toàn bộ diện tích đất vườn, ao mà các anh, chị đã bị đổi từ đất ruộng về để cho bà T1 toàn quyền quản lý sử dụng, các anh, chị không có ý kiến gì.
* Quan điểm của UBND xã N như sau: Tại thời điểm năm 1999, UBND xã N có nhận được đơn của công dân và trong đơn có xác nhận của ông xóm trưởng – Phạm M2, sau khi xem xét đơn thì phó chủ tịch UBND xã N thời kỳ đó là ông Phạm Văn N2 có ký xác nhận vào trong đơn ngày 07/5/1999, chữ ký và con dầu trong đơn là đúng. Nay đương sự có yêu cầu Toà án tuyên bố đơn xác nhận này vô hiệu, quan điểm của Ủy ban nhân dân xã N đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại biên bản ghi lời khai của ông Phạm M2 - nguyên trưởng xóm C (nay là thôn Đ) thời kỳ năm 1997 - năm 2001 thể hiện: Thời điểm năm 1999 cụ Nguyễn Thị T3, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị M1 là công dân sinh sống trên thửa đất tại thôn Đ, xã N (là công dân xóm C) có đơn xin chuyển nhượng đất cho người thừa kế (có 02 đơn nội dung giống nhau) với nội dung là cho con gái út một nửa, cho bà T1 ông V2 một nửa diện tích đất của cụ T3. Ngày 17/5/1999, ông M2 có viết xác nhận vào 02 đơn với nội dung là: Chứng nhận căn cứ vào đơn của bà Nguyễn Thị T3 xóm ba làm đơn nhượng đất cho con gái là Phạm Thị T1 là đúng. Vậy đề nghị UBND xã xem xét giải quyết, xin chân thành cảm ơn, xóm C ngày 17/5/1999, ký tên Phạm Mịch . Ông M2 khẳng định chữ ký và chữ viết trong 02 đơn này đúng là chữ của ông M2. Ngày 17/5/1999 chuyển cho ông M2 xác nhận sau đó UBND xã N ký xác nhận. Trong khoảng thời gian ông làm xóm trưởng thì các con trong gia đình không có mâu thuẫn, tranh chấp gì. Ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản án sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 611, 612, 613, 623, 625, 626, 628, 630, 631, 635, 636, 643, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M về việc yêu cầu tuyên bố di chúc của cụ Nguyễn Thị T3 vô hiệu một phần và chia thừa kế của T3, cụ L theo quy định của pháp luật.
- Tuyên bố di chúc của cụ Nguyễn Thị T3 đề ngày 11/5/1999 có hiệu lực một phần (phần cụ T3 định đoạt tài sản của cụ T3) và được chia cho bà M1 một nửa, một nửa còn lại chia cho bà T1. Tuyên bố một phần di chúc của cụ T3 (phần di chúc còn lại cụ T3 định đoạt tài sản của cụ L) vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật.
- Xác định quyền sử dụng 226,8m² đất vườn tại thửa đất số 4461 và 188,5m² đất ao tại thửa đất số 4460 tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình không phải là di sản thừa kế mà là tài sản của bà Phạm Thị M1 59,3m² đất vườn tạp và 48,5m ² đất ao và của bà Phạm Thị T1 167,5m ² đất vườn tạp và 140m² đất ao. Xác định di sản thừa kế của cụ L và cụ T3 là 400m ² đất ở tại thừa 4461 và 254,2m ² đất ao tại thứa 4462 tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Xác định 01 ngõ đi có diện tích 52,6 m² gồm có 11,8 m² đất ở tại thửa 4461 và 40,8 m² đất ao tại thửa 4462 (phần diện tích đất được ký hiệu là S4 và S5 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án) là ngõ đi chung của bà Phạm Thị M1 và các bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị N, bà Phạm Thị S, bà Phạm Thị Á và Phạm Thị Q.
- Xác định di sản của cụ Phạm Văn L để lại là: 200 m² đất ở + 127,1 m² đất ao tại thửa đất số 4461 và 4462 tại thôn Đ, xã N huyện T, tỉnh Thái Bình.
Chia di sản thừa kế của cụ L theo pháp luật cho 08 người gồm: cụ Nguyễn Thị T3, bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị N, bà Phạm Thị S, bà Phạm Thị Á, bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị Q, bà Phạm Thị T1 mỗi người một phần bằng nhau và bằng 25 m² đất ở và 16 m² đất ao có giá trị là 13.422.000 đồng.
Chia cho các bà Phạm Thị M, Phạm Thị S, Phạm Thị N, Phạm Thị Á, bà Phạm Thị Q tổng diện tích đất gồm 125 m² đất ở tại thửa đất số 4461 + 80m² đất ao tại thửa đất số 4462 tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và sau khi trừ ngõ đi chung còn lại là 119,4 m² đất ở + 60 m² đất ao là phần diện tích đất được ký hiệu lần lượt là S6 và S2 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
- Xác định di sản của cụ T3 để lại là: 200 m² đất ở + 127,1 m² đất ao và 25 m² đất ở + 16 m² đất ao (được hưởng di sản của cụ L) = 225m² đất ở + 143 m² đất ao tại thửa đất số 4461 và 4462 tại thôn Đ, xã N huyện T, tỉnh Thái Bình. Chia di sản của cụ T3 theo di chúc cho bà Phạm Thị M1 và bà Phạm Thị T1:
Chia cho bà Phạm Thị M1 được quyền sử dụng 112,5 m² đất ở + 71,5 m² đất ao. Như vậy tổng diện tích đất mà bà Phạm Thị M1 được chia theo chia theo pháp luật và xác lập quyền sử dụng đất là 137,5 m² đất ở + 136 m² đất ao+59,3 m² đất vườn tạp. Sau khi trừ ngõ đi chung còn 131,3 m² đất ở + 115 m² đất ao + 59,3 m² đất vườn tạp tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình là phần diện tích đất được ký hiệu lần lượt là S7, S3 và S9 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
Chia cho bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng 112,5 m² đất ở + 71,5 m² đất ao. Như vậy tổng diện tích đất mà bà Phạm Thị T1 được chia theo di chúc, chia theo pháp luật và xác lập quyền sử dụng là 137,5 m² đất ở + 226,7 m² đất ao + 167,5 m² đất vườn tạp tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình là phần diện tích đất được ký hiệu lần lượt là S8, S11, S1 và S10 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kháng nghị Bản án sơ thẩm theo Quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-DS, nội dung kháng nghị: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng: T5 cho bà T1, bà M1 một phần công sức tôn tạo, quản lý di sản và phân chia lại di sản thừa kế bằng hiện vật cho các đương sự cho phù hợp với thực tế sử dụng và hiện trạng đất.
* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 10/4/2025 (và tại phiên tòa), nguyên đơn - bà Phạm Thị M (T), trình bày: Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia đều di sản của cụ Phạm Văn L và cụ Phạm Thị T2 cho 6 người, gồm: bà, bà Phạm Thị N, bà Phạm Thị S(Đức), bà Phạm Thị Q, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị M1 sau khi đã trừ 200 m² đất để làm nơi thờ cúng gia tiên và bố mẹ của bà. Trên diện tích 200 m² thì bà Phạm Thị Á đã xây 30 m² nhà thờ. Bà đề nghị chia cho bà M, bà N, bà S, bà Q vào một khu và giáp khuôn viên nhà thờ để các bà dễ sinh hoạt, quản lý. Bà Phạm Thị Á từ chối nhận di sản, bà không có ý kiến gì. Bà M không yêu cầu định giá lại tài sản.
* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 10/4/2025, bà Phạm Thị Á trình bày: Bà giữ nguyên ý kiến về di sản như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm. Bà đồng ý với ý kiến của bà M là trước khi chia thừa kế thì tách ra 200 m² để làm nơi thờ cúng. Đối với 30 m² nhà thờ do bà xây bà không yêu cầu chia và xác định đó là di sản của bố, mẹ bà. Bà từ chối nhận di sản của bố mẹ bà để lại, để các chị, em của bà tự giải quyết với nhau. Bà xin được vắng mặt tại các phiên làm việc và tại các phiên tòa.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, sửa một phần bản án sơ thẩm, chia lại di sản thừa kế theo hướng như sau:
- Về yêu cầu khởi kiện chia thừa kế: Xác định Di chúc cụ T2 đề ngày 11/5/1999 có hiệu lực một phần đối với phần di sản của cụ T2 và vô hiệu một phần đối với phần của cụ L. Các đương sự đều không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nội dung này. Do đó, di sản của cụ L được chia theo pháp luật, di sản của cụ T2 được chia theo di chúc.
- Về xác định di sản: Di sản của hai cụ sau khi trừ đi diện tích đất nông nghiệp đã quy đổi của bà M1 và hộ bà T1 còn lại là 400 m² đất thổ cư và 254,2 m² đất ao.
- Việc tính công sức tôn tạo, quản lý di sản: Tính cho bà T1, bà M1 được hưởng một phần công sức tôn tạo, quản lý di sản của cụ L, mỗi người tương đương với ½ suất thừa kế của cụ L.
- Xác định kỷ phần thừa kế:
- Lấy một phần diện tích đất ao tại thửa 4462 và đất vườn tại thửa 4461 làm ngõ đi. Diện tích đất ao làm ngõ đi chung sẽ được trừ vào di sản; diện tích đất vườn được lấy từ đất nông nghiệp quy đổi của bà T1, bà M1 và sẽ buộc thanh toán chênh lệch đối với diện tích thực tế được giao.
- Xác định di sản của cụ L để lại là một nửa di sản của cụ T2 và cụ L. Những người được hưởng thừa kế của cụ T2 là bà M, bà T1, bà N, bà S, bà Á, bà Q và bà M1, tính công sức quản lý cho bà M1, bà T1 mỗi người ½ suất thừa kế. Tại cấp phúc thẩm, bà Á có đơn từ chối nhận di sản. Như vậy, di sản của cụ L được chia thành 08 phần bằng nhau,trong đó, cụ T2, bà M, bà N, bà S, bà Q mỗi người được hưởng 01 suất thừa kế; bà T1, bà M1 mỗi người được hưởng 1,5 suất thừa kế.
- Xác định di sản của cụ T2 để lại là một nửa di sản của cụ T2 và cụ L và một suất thừa kế cụ T2 được hưởng của cụ L theo pháp luật. Toàn bộ di sản của cụ T2 sẽ được chia theo di chúc cho bà M1 ½ và bà T1, ông V2 ½. Ông V2 chết năm 2020 không để lại di chúc. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông V2 gồm anh V1, chị H, chị V và bà T1 nhưng những người này đều đồng ý nhường toàn bộ phần di sản của ông V2 được hưởng của cụ T2 cho bà T1 hưởng hết. Đối với diện tích đất quy đổi theo quyết định 948 và 652 thì anh Đ1, anh V1, chị V và chị H cũng đều đồng ý để cho bà T1 hưởng hết.
- Về cách chia thừa kế bằng hiện vật và nghĩa vụ thanh toán: Ba thửa đất 4460, 4461, 4462 liền kề với nhau tạo thành thửa đất lớn tương đối vuông vắn, bà T1 và bà M1 thực tế đang quản lý toàn bộ di sản, giữa 02 hộ đã phân định ranh mốc giới từ trước do đó cần chia cho các đương sự theo ranh mốc giới này để đảm bảo ổn định hiện trạng sử dụng, không làm ảnh hưởng đến công trình trên đất. Đối với diện tích đất có nhà thờ nằm trên phần đất do bà M1 quản lý cần chia cho các bà M, bà S, bà N, bà Q sử dụng. Người nào được chia phần giá trị nhiều hơn có nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế còn lại.
- Về án phí: Miễn án phí cho bà M, T1, S, N, Q vì là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí. Miễn án phí cho bà M1 do thuộc diện hộ nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Xét thời hạn kháng nghị: Quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thâmt số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình gửi trong hạn luật định, hợp lệ nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Sự có mặt của đương sự: Xét, nội dung kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các đương sự sau: Nguyên đơn - bà Phạm Thị M; bị đơn - bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị M1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị N, bà Phạm Thị S (Đức), bà Phạm Thị Q, bà Phạm Thị Át N3 Tòa án triệu tập những người này đến tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Tại phiên tòa có mặt bà M, bà N, bà S (Đ), bà Q; vắng mặt bà T1, bà M1, bà Á do có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Uỷ ban nhân dân (UBND) xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; chị Nguyễn Thị V; anh Nguyễn Văn V1; chị Phạm Thị T2; chị Nguyễn Thị H; anh Nguyễn Văn Đ1, xét thấy nội dung kháng nghị không liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của UBND xã N, chị V, chị H, chị T2, anh V1, anh Đ1. Căn cứ Điều 294 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm.
- Xét nội dung Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng tính cho bà T1, bà M1 một phần công sức tôn tạo, quản lý di sản và phân chia lại di sản thừa kế bằng hiện vật cho các đương sự cho phù hợp với thực tế sử dụng và hiện trạng đất thì thấy:
- Về thời hiệu chia di sản thừa kế: Cụ Lại chết năm 1996, cụ T2 chết năm 2002, như vậy yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của nguyên đơn còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện chia thừa kế: Cụ Lại chết không để lại di chúc. Cụ T2 chết có để lại di chúc. Di chúc của cụ T2 lập ngày 11/5/1999, Di chúc có nội dung chính như sau: “Tôi là Nguyễn Thị T3, chồng tôi là Phạm Văn L đã qua đời, tôi không có con trai chỉ sinh được 7 người con gái, 6 người đã lập gia đình chỉ còn một đứa con út ở với tôi ... Tôi còn tại đường, tôi làm giấy này giao đất cho con gái tôi là Phạm Thị T1 con rể tôi là Nguyễn Văn V2 đang cư trú tại xóm A, xã N. Số đất của tôi hiện đang ở là 2,9 sào, tôi chia cho con gái út ở với tôi một nửa, còn một nửa tôi giao cho Phạm Thị T1 và con rể Nguyễn Văn V2 thừa kế, sau này tôi mất đi Phạm Thị T1 và Nguyễn Văn V2 hương khói thờ cúng vợ chồng tôi hàng năm ... “. Di chúc có chứng nhận của xóm trưởng ngày 17/5/1999 và chứng thực của Ủy ban nhân dân xã N. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di chúc có hiệu lực một phần đối với phần di sản của cụ T3 và vô hiệu một phần đối với phần di sản của cụ L mà cụ T3 định đoạt, Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ, đúng quy định. Nội dung này không có kháng cáo, kháng nghị, do đó di sản của cụ L được chia theo pháp luật, di sản của cụ T3 được chia theo di chúc.
- Về xác định di sản: Khi còn sống hai cụ có tài sản chung là 03 thửa đất đều có địa chỉ tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án cấp sơ thẩm thì thửa số 4460 có diện tích 191,1 m², loại đất ao đã được san lấp thành vườn; thửa số 4461 có diện tích 626,8 m² (gồm 400 m² đất thổ và 226,8 m² đất vườn tạp); thửa số 4462 có diện tích 251,6 m², loại đất ao. Qua từng thời kỳ diện tích đất có sự thay đổi là do sai số trong đo đạc, đất không có sự tranh chấp với các hộ liền kề. Trên đất có các công trình như sau: 01 nhà thờ diện tích 35 m² do bà Á xây dựng; 01 nhà ngói 03 gian mái lợp rạ là của hai cụ sau đó bà M1 đã sửa thành nhà ngói; 01 nhà mái bằng và công trình phụ do bà T1 xây dựng. Hiện di sản đang do bà M1 và bà T1 quản lý. Thực hiện Quyết định 652 và 948 của Ủy ban nhân dân tỉnh T, xã N đã quy đổi đất hai lúa của bà M1 và hộ gia đình bà T1 (gồm bà T1, ông V2, chị H, chị V, anh V1, anh Đ1) về một phần diện tích đất ao và đất vườn tạp của hai cụ. Cụ thể, bà M1 được quy đổi 59,3 m² đất vườn tạp và 48,5 m² đất ao. Hộ gia đình bà T1 được quy đổi 170 m² đất vườn tạp và 140 m² đất ao. Như vậy, di sản của hai cụ còn lại (sau khi trừ đi diện tích đất đã quy đổi của bà T1 và bà M1) là 400 m² đất thổ cư tại thửa 4461 và 254,2 m² đất ao tại thửa 4460 và 4462. Giá đất ở là 510.000 đồng/m². Giá đất vườn tạp là 45.000 đồng/m², giá đất ao là 42.000 đồng/m².
- Việc tính công sức tôn tạo, quản lý di sản: Thực tế thì bà M1, gia đình bà T1 có thời gian sinh sống cùng cụ L và cụ T3 trên thửa đất của hai cụ. Sau khi hai cụ chết thì bà M1 và gia đình bà T1 tiếp tục sinh sống trên thửa đất cho đến nay. Như vậy, bà M1, bà T1 có công sức trong việc quản lý, tôn tạo di sản, do đó khi chia di sản cần xem xét chia cho bà T1, bà M1 được hưởng một phần công sức quản lý, tôn tạo di sản của cụ L, mỗi người được hưởng tương đương ½ suất thừa kế là phù hợp theo quy địnhh của pháp luật. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà M1 và bà T1 xác định toàn bộ Di sản đã được chia theo di chúc cho hai bà nên di sản đã trở thành tài sản của hai bà, vì thế hai bà không yêu cầu tính công sức tôn tạo, quản lý di sản. Xét thấy, tài sản được hưởng đối với yêu cầu chia thừa kế theo di chúc lớn hơn yêu cầu tính công sức tôn tạo, quản lý di sản nên bị đơn yêu cầu chia thừa kế theo Di chúc. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định một phần Di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ L nhưng không tính cho bà T1, bà M1 được hưởng một phần công sức tôn tạo, quản lý di sản là thiếu sót, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 618 Bộ luật Dân sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn nên Tòa án cấp phúc thẩm cần xem xét, giải quyết lại.
- Xác định kỷ phần thừa kế:
+ Cắt 34,2 m² đất ao tại thửa 4462 làm ngõ đi vào phần đất giao cho bà T1; cắt 31,4 m² đất ao tại thửa 4462 và 14,1 m² đất vườn tại thửa 4461 làm ngõ đi chung vào phần đất giao cho bà M1, và các bà bà M, bà S, bà N, bà Q. Diện tích đất ao làm ngõ đi chung sẽ được trừ vào di sản; diện tích đất vườn được quy đổi từ đất hai lúa của bà T1 và bà M1 nên sẽ buộc thanh toán tiền chênh lệch đối với diện tích đất thực tế được giao. Như vậy, di sản của các cụ còn lại sau khi trừ đi diện tích làm ngõ sẽ còn là 400 m² đất thổ cư và 188,6 m² đất ao.
+ Xác định di sản của cụ L là một nửa di sản của cụ T3 và cụ L = 200 m² đất ở, 94,3 m² đất ao ( 400 m² đất ở/2, 188,6 m² đất ao/2). Những người được hưởng thừa kế của cụ T3 là bà M, bà T1, bà N, bà S, bà Á, bà Q và bà M1, tính công sức quản lý cho bà M1, bà T1 mỗi người ½ suất thừa kế, bà Á từ chối nhận di sản nên không chia cho bà Á. Như vậy, di sản của cụ L được chia thành 08 suất thừa kế bằng nhau, mỗi suất là 25 m² đất ở và 11,7875 m² đất ao. Trong đó, cụ T3, bà M, bà N, bà S, bà Q mỗi người được hưởng 01 suất thừa kế là 25 m² đất ở và 11,7875 m² đất ao; bà T1, bà M1 mỗi bà được hưởng 01 suất thừa kế và ½ suất công sức quản lý, tôn tạo, như vậy bà T1, bà M1 mỗi người được hưởng 1,5 suất là 37,5 m² đất ở và 17,68125 m² đất ao.
+ Xác định di sản của cụ T3 để lại là một nửa di sản của cụ T3 và cụ L = 200m² đất ở, 94,3 m² đất ao và một suất cụ T3 được hưởng thừa kế của cụ L theo pháp luật. Cộng di sản của cụ T3 là 225 m² đất ở, 106,0875 m² đất ao.
Di sản của cụ T3 được chia theo di chúc như sau: Bà M1 được chia ½ là 112,5 m² đất ở, 53,04375 m² đất ao; bà T1 và ông V2 được chia ½ là 112,5 m² đất ở, 53,04375 m² đất ao. Ông V2 chết năm 2020 không để lại di chúc. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông V2 gồm anh V1, chị H, chị V và bà T1 nhưng các anh, chị này không yêu cầu chia di sản của ông V2, cùng thống nhất nhường toàn bộ phần di sản của ông V2 được hưởng của cụ T3 cho bà T1. Đối với diện tích đất quy đổi theo Quyết định 652 và 948 thì anh Đ1, anh V1, chị V và chị H cũng đều không yêu cầu chia và đồng ý để nhường cho bà T1 được hưởng.
Như vậy diện tích đất mỗi người được chia như sau:
+ Bà M1: 37,5 m² đất ở và 17,68125 m² đất ao (phần được hưởng thừa kế theo pháp luật của cụ L) + 112,5 m² đất ở và 53,04375 m² đất ao (phần được hưởng thừa kế theo di chúc của cụ T3) + 59,3 m² đất vườn và 48,5 m² đất ao (phần quy đổi đất nông nghiệp) = 150 m² đất ở + 119,225 m² đất ao + 59,3 m² đất vườn.
+ Bà T1: 37,5 m² đất ở và 17,68125 m² đất ao (phần được hưởng thừa kế theo pháp luật của cụ L) + 112,5 m² đất ở và 53,04375 m² đất ao (phần được hưởng thừa kế theo di chúc của cụ T3) + 167,5 m² đất vườn (bà T1 chấp nhận phần quy đổi thiếu 2,5 m²) và 140 m² đất ao (phần quy đổi đất nông nghiệp) = 150 m² đất ở + 210,725 m² đất ao + 167,5 m² đất vườn.
+ Bà M, bà N, bà S, bà Q, bà Á mỗi người được hưởng 01 suất thừa kế theo pháp luật của cụ L là 25 m² đất ở và 11,7875 m² đất ao. Tổng di sản các bà được hưởng là 100 m² đất ở và 47,15 m² đất ao.
- Về việc chia thừa kế bằng hiện vật
[2.6.1] Tòa án cấp sơ thẩm chia thừa kế bằng hiện vật cho bà T1, bà M1 để đảm bảo có chỗ ở ổn định, chia chung diện tích đất cho các bà M, bà N, bà S, bà Á, bà Q để có nơi thờ cúng chung là phù hợp. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà M1 phần diện tích 59,3 m² đất vườn tạp (ký hiệu là S9 trên sơ đồ đính kèm bản án sơ thẩm) có các cạnh: Phía Bắc và phía Tây giáp đất bà T1 được chia; phía Nam giáp đất chung của các bà M, bà S, bà N, bà Q; phía Đông giáp đất bà S thì thấy, phần diện tích đất được chia này bị bao quanh bởi các hộ liền kề, không có cạnh nào tiếp giáp với đường giao thông nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không mở lối đi vào phần đất này là vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 254 Bộ luật Dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà M1 và dẫn đến việc không thể thi hành được bản án cũng như quyền sử dụng đất của đương sự bị hạn chế. Bên cạnh đó Bản án phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật cũng không phù hợp với thực tế sử dụng và hiện trạng đất như: Chia cho bà T1 tổng cộng là 04 thửa đất, ký hiệu các thửa đất là S1, S8, S10, S11 theo sơ đồ đính kèm bản án, việc chia này tạo thành cạnh phía Đ2 là một đường gấp khúc gồm 07 đoạn; diện tích đất chia cho bà M1 tổng cộng là 03 thửa, ký hiệu là S3, S7, S9 theo sơ đồ đính kèm bản án trong đó phần đất S9 còn không có lối vào như đã phân tích cụ thể ở trên; diện tích đất chia cho các bà M, bà S, bà N, bà Q, bà Á được chia gồm 02 thửa, ký hiệu là S6, S2 theo sơ đồ đính kèm bản án thì chia hai phần đất này tách biệt xa nhau, chia phần đất ao cho các bà liền kề phần đất ngõ đi chia cho bà T1 mà không chia tiếp giáp với phần ngõ đi chung vào nhà thờ. Như vậy, với Bản án sơ thẩm đã phân chia tạo ra các phần đất được chia không gọn, không vuông vắn rất khó trong việc quản lý, sử dụng và thực hiện các quyền khác của người được quyền sử dụng đất. Đồng thời, trên thửa đất 4461 có nhà mái ngói 01 tầng xây dựng năm 1992 - 1993 (ký hiệu số 12 trên sơ đồ) mặc dù đã hết giá trị khấu hao nhưng thực tế bà M1 vẫn đang quản lý, sử dụng. Khi chia thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm đã cắt qua các công trình này làm ảnh hưởng đến công năng sử dụng, gây khó khăn cho bà M1 về chỗ ở, sinh hoạt, nhất là trong trường hợp bà M1 sống một mình và thuộc diện hộ nghèo. Vỉ lẽ đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần thiết phải chia lại di sản cho phù hợp với điều kiện thực tế.
[2.6.2] Xét thấy, ba thửa đất gồm thửa số 4460, 4461, 4462 liền kề với nhau tạo thành thửa đất lớn tương đối vuông vắn, bà T1 và bà M1 thực tế đang quản lý toàn bộ di sản, giữa 02 hộ đã phân định ranh mốc giới từ trước bằng bức tường dậu do đó có thể chia cho các đương sự theo ranh mốc giới này để đảm bảo ổn định hiện trạng sử dụng, không làm ảnh hưởng đến công trình trên đất. Đối với diện tích đất có nhà thờ cần chia cho các bà M, bà S, bà N, bà Q sử dụng. Người nào được chia phần giá trị nhiều hơn có nghĩa vụ thanh toán cho các thừa kế còn lại. Cụ thể cách phân chia như sau:
- Chia cho bà T1 phần đất có cạnh phía Bắc giáp đất nông nghiệp, cạnh phía Nam giáp đường giao thông, cạnh phía Đông giáp phần diện tích dự kiến chia cho bà M1, cạnh phía Tây giáp đất ông T6. Thửa đất có tổng diện tích là 402,3 m², gồm có 140 m² đất ở và 108,5 m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 4461 + 153,8 m² đất ao (gồm 83,9 m² tại thửa 4460 và 69,9 m² tại thửa 4462). Bà T1 được quyền sử dụng đối với các công trình và cây cối trên đất do bà tạo lập, bà T1 được thanh toán chênh lệch về tài sản đối với 10 m² đất ở, 59 m² đất trồng cây lâu năm, 56,925 đất ao.
- Chia cho bà M1 phần đất có cạnh phía Bắc giáp đất nông nghiệp, cạnh phía Nam giáp đường giao thông, cạnh phía Đông giáp phần diện tích dự kiến chia cho các bà M, bà S, bà N, bà Q, cạnh phía Tây giáp phần đất dự kiến chia cho bà T1. Thửa đất có tổng diện tích là 337,1 m², gồm có 140 m² đất ở và 60 m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 4461 + 137,1 m² đất ao (gồm 53,3 m² tại thửa 4460 và 83,8 m² tại thửa 4462). Bà M1 được quyền sử dụng đối với các công trình và cây cối trên đất do bà tạo lập, bà M1 phải thanh toán chênh lệch về tài sản đối với 17,875 m² đất ao và 7,75 m² đất trồng cây lâu năm. Bà M1 được thanh toán chênh lệch đối với 10 m² đất ở.
- Chia cho các bà M, bà S, bà N, bà Q phần đất có cạnh phía Bắc giáp đất nông nghiệp, cạnh phía Nam giáp đường giao thông, cạnh phía Đông giáp phần diện tích đất của hộ bà S, cạnh phía Tây giáp phần đất dự kiến chia cho bà M1. Thửa đất có tổng diện tích là 250,4 m², gồm có 120 m² đất ở và 44,2 m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 4461 + 86,2 m² đất ao (gồm 53,9 m² tại thửa 4460 và 32,3 m² tại thửa 4462). Các bà M, bà S, bà N, bà Q được quyền quản lý, sử dụng đối với nhà thờ do bà Á đã xây dựng trên phần đất được chia. Các bà M, bà S, bà N, bà Q phải thanh toán chênh lệch về tài sản đối với 20 m² đất ở; 51,25 m² đất trồng cây lâu năm và 39,05 m² đất ao.
- Về nghĩa vụ thanh toán:
- Bà M1 phải thanh toán cho bà T1 giá trị của 17,875 m² đất ao và 7,75 m² đất trồng cây lâu năm với tổng số tiền là 1.099.500 đồng.
- Các bà M, bà S, bà N, bà Q phải thanh toán cho bà T1 giá trị của 10 m² đất ở; 51,25 m² đất trồng cây lâu năm và 39,05 m² đất ao với tổng số tiền là 9.046.350 đồng, trong đó phần của mỗi người là 2.261.587 đồng.
- Các bà M, bà S, bà N, bà Q phải thanh toán cho bà M1 giá trị của 10 m² đất ở với số tiền là 5.100.00 đồng, trong đó phần của mỗi người là 1.275.000 đồng.
- Bà Á không yêu cầu thanh toán số tiền đã bỏ ra xây nhà thờ trên đất nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự cho bà M, bà T1, bà S, bà N, bà Q vì là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí. Miễn án phí cho bà M1 vì bà M1 thuộc diện hộ nghèo. Bà Á từ chối hưởng thừa kế tài sản nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 293, điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 294, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Chấp nhận Kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 22/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, sửa một phần Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 611, 612, 613, 623, 625, 626, 628, 630, 631, 635, 636, 643, 649, 650, 651, 652 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M về việc yêu cầu tuyên bố di chúc của cụ Nguyễn Thị T3 vô hiệu một phần và chia thừa kế tài sản của Nguyễn Thị T3, cụ Phạm Văn L.
- Tuyên bố di chúc của cụ Nguyễn Thị T3 đề ngày 11/5/1999, có hiệu lực đối với phần cụ T3 định đoạt tài sản của cụ T3, vô hiệu đối với phần cụ T3 định đoạt di sản của cụ Phạm Văn L.
- Xác định di sản của Phạm Văn L và cụ Nguyễn Thị T3 để lại gồm: Diện tích 400 m² đất ở tại thửa đất số 4461 và diện tích 254,2 m² đất ao tại thửa đất số 4460, số 4462.
- Cắt diện tích 34,2 m² đất ao tại thửa số 4462 làm ngõ đi vào phần đất giao cho bà T1, có các cạnh: Phía Tây giáp đất ông T6, phía Bắc giáp phần đất vườn chia cho bà T1, phía Đông giáp đất ao chia cho bà T1, phía Nam giáp đường giao thông (ký hiệu S17 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án).
- Cắt diện tích 14,1 m² đất vườn tại thửa số 4461 và diện tích 31,4 m² đất ao tại thửa số 4462 để làm ngõ đi chung vào phần đất giao cho bà M1, bà M, bà S, bà N, bà Q. Cụ thể, diện tích 14,1 m² đất vườn có các cạnh: Phía Tây giáp phần đất vườn chia cho bà M1; phía Bắc giáp phần đất có nhà thờ giao cho bà M, bà S, bà N, bà Q; phía Đông giáp đất bà S, phía Nam giáp phần đất ao cắt làm ngõ đi chung cho bà M1 và các bà: Bà M, bà S, bà N, bà Q và giáp phần đất ao chia cho bà M, bà S, bà N, bà Q, làm ngõ đi chung cho bà M và các bà: Bà M, bà S, bà N, bà Q (ký hiệu S12 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án); diện tích 31,4 m² đất ao có các cạnh: Phía Tây giáp phần đất ao chia cho bà M, bà S, bà N, bà Q; phía Bắc giáp phần đất vườn (cắt làm ngõ đi chung cho bà M1, bà M, bà S, bà N, bà Q); phía Đông giáp đất bà S, phía Nam giáp đường giao thông (ký hiệu S13 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án).
- Xác định Di sản của cụ Phạm Văn L và cụ Nguyễn Thị T3 để lại (sau khi trừ diện tích làm ngõ) còn là: Diện tích 400 m² đất ở tại thửa đất số 4461, diện tích 188,6 m² đất ao tại các thửa đất số 4460 và số 4462, đều thuộc tờ bản đồ số 05 đo đạc năm 1990, địa chỉ các thửa đất: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tổng giá trị tài sản là 211.921.200 đồng. Trong đó:
- Di sản của cụ Phạm Văn L để lại là: Diện tích 200 m² đất ở tại thửa đất số 4461, diện tích 94,3 m² đất ao tại thửa đất số 4460 và số 4462 đều thuộc tờ bản đồ số 5 đo đạc năm 1990. Chia di sản của cụ Phạm Văn L theo pháp luật cho 8 suất gồm: Cụ Nguyễn Thị T3; bà Phạm Thị M; bà Phạm Thị T1; bà Phạm Thị N; bà Phạm Thị S; bà Phạm Thị Q; bà Phạm Thị M1, mỗi người được 1 suất; bà T1 và bà M1 được 1 suất công sức quản lý di sản, mỗi bà được ½ suất.
- Di sản của cụ Nguyễn Thị T3 để lại là: Diện tích 225 m² đất ở tại thửa đất số 4461, diện tích 106,0875 m² đất ao tại thửa đất số 4460 và số 4462 đều thuộc tờ bản đồ số 5 đo đạc năm 1990. Chia Di sản của cụ Nguyễn Thị T3 theo Di chúc cho bà Phạm Thị T1 và bà Phạm Thì M4, mỗi bà được hưởng ½ di sản.
- Diện tích 226,8 m² đất vườn tạp tại thửa đất số 4461, diện tích 188,5 m² đất ao tại thửa đất số 4460 và số 4462, đều thuộc tờ bản đồ số 05 đo đạc năm 1990, địa chỉ tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình không phải là di sản thừa kế, là tài sản của bà Phạm Thị T1 và bà Phạm Thị M1 được quy đổi theo Quyết định 652 và 948 của Ủy ban nhân dân tỉnh T. Trong đó: Tài sản của bà T1 là 167,5 m² đất vườn và 140 m² đất ao, tài sản của bà M1 là 59,3 m² đất vườn và 48,5 m² đất ao.
- Chia thừa kế và giao đất trên thực tế cụ thể như sau:
- Giao cho bà Phạm Thị T1 phần đất có tổng diện tích là 402,3 m², gồm có 140 m² đất ở và 108,5 m² đất trồng cây lâu năm đều tại thửa số 4461 (ký hiệu S3, S2, S4 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án), 153,8 m² đất ao (gồm 83,9 m² tại thửa số 4460 và 69,9 m² tại thửa số 4462, ký hiệu S1, S16 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án). Tổng diện tích đất có các cạnh: Phía Tây giáp đất ông T6, phía Bắc giáp đất nông nghiệp, phía Đông giáp các phần đất chia cho bà Phạm Thị M1, phía Nam giáp đường giao thông (theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án). Bà T1 được thanh toán chênh lệch về tài sản đối với 10 m² đất ở; 59 m² đất trồng cây lâu năm; 56,925 đất ao.
- Giao cho bà Phạm Thị M1 phần đất có tổng diện tích là 337,1 m², gồm có 140 m² đất ở và 60 m² đất trồng cây lâu năm đều tại thửa 4461 (ký hiệu S7, S6, S8 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án), 137,1 m² đất ao (gồm 53,3 m² tại thửa 4460 và 83,8 m² tại thửa 4462, ký hiệu S5, S15 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án). Tổng diện tích đất có các cạnh: Phía Tây giáp các phần đất chia cho bà Phạm Thị T1; phía Bắc giáp đất nông nghiệp; phía Đông giáp các phần đất chia cho các bà: Phạm Thị M, phạm Thị N, Phạm Thị S, Phạm Thị Q; phía Nam giáp đường giao thông (theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án). Bà M1 phải thanh toán chênh lệch về tài sản đối với 17,875 m² đất ao và 7,75 m² đất trồng cây lâu năm. Bà M1 được thanh toán chênh lệch đối với 10 m² đất ở. Bà M1 được quyền sử dụng đối với các công trình và cây cối trên đất do bà M1 tạo lập.
- Giao cho các bà: Phạm Thị M, Phạm Thị N, Phạm Thị S, Phạm Thị Q phần đất có tổng diện tích là 250,4 m², gồm: 120 m² đất ở và 44,2 m² đất trồng cây lâu năm đều tại thửa số 4461 (ký hiệu S11, S10 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án), 86,2 m² đất ao (gồm 53,9 m² tại thửa 4460 và 32,3 m² tại thửa 4462, ký hiệu S9, S14 theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án). Tổng diện tích đất có các cạnh: Phía Tây giáp các phần đất chia cho bà Phạm Thị M1; phía Bắc giáp đất nông nghiệp; phía Đông giáp đất S; phía Nam giáp đường giao thông (theo sơ đồ chia đất đính kèm bản án). Các bà: Bà M, bà S, bà N, bà Q phải thanh toán chênh lệch về tài sản đối với 20 m² đất ở; 51,25 m² đất trồng cây lâu năm và 39,05 m² đất ao.
Các bà: Bà M, bà N, bà S, bà Q được quyền quản lý, sử dụng 19,3 m² nhà thờ do bà Phạm Thị Á xây dựng trên phần đất các bà được chia.
- Về nghĩa vụ thanh toán:
- Bà Phạm Thị M1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phạm Thị T1 giá trị của 17,875 m² đất ao và 7,75 m² đất trồng cây lâu năm với tổng số tiền là 1.099.500 đồng.
- Các bà: Phạm Thị M, Phạm Thị S, Phạm Thị N, Phạm Thị Q cùng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phạm Thị T1 giá trị của 10 m² đất ở, 51,25 m² đất trồng cây lâu năm và 39,05 m² đất ao với tổng số tiền là 9.046.350 đồng, trong đó phần của mỗi bà phải thanh toán là 2.261.587 đồng.
- Các bà: Phạm Thị M, Phạm Thị S, Phạm Thị N, Phạm Thị Q cùng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phạm Thị M1 giá trị của 10 m² đất ở với số tiền là 5.100.00 đồng, trong đó phần của mỗi bà phải thanh toán là 1.275.000 đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho các bà: Phạm Thị M, Phạm Thị N, Phạm Thị S, Phạm Thị Q, Phạm Thị M1. Bà Phạm Thị Á không phải chịu án phí dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 05/6/2025.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND huyện Tiền Hải; - Chi cục THADS huyện Tiền Hải; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hân |
Bản án số 45/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 45/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế tài sản M - T1
