Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 45/2025/DS-PT

Ngày 03 tháng 3 năm 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

—————————

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và bà Phạm Thị Minh Châu;

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trường San, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 tháng 02 và 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 262/2024/TLPT- DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 266/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 410/2024/QĐXXPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    • - Ông Lăng Văn C, sinh năm 1944; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt;
    • - Bà Lăng Thị H, sinh năm 1949 (chết ngày 15/8/2019)
    • Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lăng Thị H:
      • Bà Huỳnh Thị Ngọc B, sinh năm 1966; Bà Huỳnh Thị Ngọc Đ, sinh năm 1970; Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1971; Bà Huỳnh Thị Ngọc C1, sinh năm 1975; Ông Huỳnh Tấn T, sinh năm 1981; nơi cư trú: số D, tổ C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
    • - Bà Lăng Thị T1, sinh năm 1949; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt.
    • - Ông Lăng Kim V, sinh năm 1951 (chết ngày 16/8/2019).
    • Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Lăng Kim V:
      • Ông Lăng Kim T2, sinh năm 1978; bà Lăng Thị T3, sinh năm 1981; nơi cư trú: số D, tổ C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt;
      • Bà Lăng Thị Mỹ L (Lê Thị Mỹ L1), sinh năm 1956; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
    • - Ông Lăng Văn Y, sinh năm 1958; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt.
    • - Bà Lăng Thị Thu H2, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
    • - Bà Lăng Thị Lệ T4, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lăng Thị T1, ông Lăng Văn Y: Ông Trần Ngọc P - Văn phòng Luật sư Trần Ngọc P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số E, đường B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt.

  2. Bị đơn:
    • - Bà Khổng Thị L2 (chết ngày 01/9/2020).
    • Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Khổng Thị L2:
      • Ông Khổng Văn T5, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt;
    • - Bà Khổng Thị M, sinh năm 1940; nơi cư trú: Tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: Số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1950; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt;
    • - Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1981 (chết);
    • Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà L3:
      • Nguyễn Phú C2, sinh năm 1999; Nguyễn Thị Tường V1, sinh năm 2001; Nguyễn Thị Bích T7, sinh năm 2003; Nguyễn Phú H3, sinh 2015; nơi cư trú: Số D, tổ C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: bà Lăng Thị T1, sinh năm 1949; ông Lăng Văn Y, sinh năm 1958, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn trình bày: Ngày 20/3/1969, bà Từ Thị B1 (mẹ đẻ của các nguyên đơn) và bà Hàng Thị Đ1 có lập tờ nhận cố đất của bà Hàng Thị L4 với diện tích 440m², đất tọa lạc tại Làng M, quận C, tỉnh An Giang, thời gian cố đất là 20 năm, giá bạc cố đất là 2.500 đồng nhưng thực tế là bà L4 đã chuyển nhượng đất cho B1 và bà Đ1, đồng thời bà L4 giao bản chính Tờ thuận phân ngày 27/8/1939 thể hiện diện tích đất bà L4 được quyền quản lý, sử dụng cho bên nhận cố đất khi đã nhận đủ số bạc. Sau đó, bà B1 và bà Đặng thỏa T8 phân chia mỗi người sử dụng phần diện tích đất bằng nhau là 220m².

Năm 1998, bà Khổng Thị M có nhà ở bờ sông bị giải tỏa nên có xin bà B1 cho cất nhà ở tạm trên đất, khi nào tìm được nơi ở mới sẽ di dời trả lại đất và được bà B1 đồng ý. Bà M cất nhà sàn sát nhà bà B1, không xác định được diện tích là bao nhiêu.

Năm 2001, khi Nhà nước có chủ trương đo đạc đất đại trà, bà B1 kê khai, hướng dẫn đo đạc phần diện tích đất 220m² thì bà M ngăn cản và cho rằng phần diện tích bà M đang sử dụng là của ông Khổng Văn T9 (cha bà M) để lại nên các bên xảy ra tranh chấp và được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không thỏa thuận được. Sau đó, bà M tự ý chuyển nhượng nhà, đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị L3, còn bà Khổng Thị L2 (chị bà M) chiếm lấy phần đất phía sau nhà bà L3 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T6. Đến năm 2008, bà B1 chết.

Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Khổng Thị L2, Khổng Thị M phải có trách nhiệm trả lại phần diện tích đất khoảng 60m², phần diện tích đất này nằm giáp ranh giới với phần đất của nguyên đơn đang quản lý, sử dụng, đất tọa lạc tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Tại bản tự khai ngày 27/01/2016 và biên bản lấy lời khai ngày 28/01/2016, bị đơn Khổng Thị L2 trình bày:

Ngày 04/6/1999, bà có chuyển nhượng phần diện tích đất ngang 2,8m (phía sau 3,5m), dài 12m cho bà Nguyễn Thị T6, giá chuyển nhượng là 08 chỉ vàng 24k. Nguồn gốc đất bà chuyển nhượng cho bà T6 là của ông Khổng Văn T9 (cha bà L2). Bà L2 không đồng ý trả lại diện tích đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/9/2017,bị đơn bà Khổng Thị M khai:

Cha mẹ bà là ông Khổng Văn T9 và Võ Thị H4 có 03 người con là Khổng Thị L2, Khổng Thị H5 và Khổng Thị M. Phần diện tích đất nguyên đơn tranh chấp khoảng 60 m² có nguồn gốc cha mẹ bà M để lại từ năm 1939 đến nay. Đất ông Hàng Văn T10, bà Trương Thị Â để lại, chia cho 03 người con mỗi người một phần gồm Hàng Văn T11, Hàng Văn T12 và Hàng Thị L4. Đất bà L4 do bà Từ Thị B1 và Hàng Thị Đặng N cố và chia làm 2 phần bằng nhau.

Phần diện tích đất ông Y, bà T1 tranh chấp có nguồn gốc của cha là ông Khổng Văn T9 mua của ông Hàng Văn T12 năm 1939; đất ông T12 giáp đất ông T11. Quá trình sử dụng đất bà M có đóng thuế cho nhà nước, việc ông Y khởi kiện là không đúng.

- Tại Tờ tường trình ngày 27/01/2016 và biên bản lấy lời khai ngày 28/01/2016, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T6 trình bày:

Ngày 04/6/1999, bà T6 có nhận chuyển nhượng phần diện tích đất ngang 2,8m, dài 12m, phía sau 3,5m của bà Khổng Thị L2, giá chuyển nhượng là 08 chỉ vàng 24k. Phần đất này, bà L2 có đóng thuế sử dụng đất hàng năm và sau khi nhận nhượng chuyển nhượng đất thì bà T6 tiếp tục nộp thuế đất cho đến năm 2014. Việc các bên tranh chấp nên bà không sử dụng được đất cho đến nay.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/01/2016, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L3 trình bày:

Ngày 16/7/2014, bà có nhận chuyển nhượng phần diện tích đất 36m² của bà Khổng Thị M với giá 40.000.000 đồng, đất tọa lạc tại khóm T, phường M, thành phố L. Hai bên có lập giấy tờ mua bán, trên đất có nhà tạm được cất từ tháng 9/2015. Khi nhận chuyển nhượng đất, bà L3 chỉ biết đất của bà M, bà L2 được cha, mẹ để lại. Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà L3 yêu cầu bà M phải sang tên giấy đất cho bà được ở ổn định, sửa chữa lại nhà cửa.

* Tại Bản án sơ thẩm số 266/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn Khổng Thị L2, Khổng Thị M có trách nhiệm trả phần diện tích đất 60m² theo Tờ thuận phân ngày 27/8/1939 và Tờ cố đất ngày 20/3/1969, đất tọa lạc tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Các đương sự được thực hiện quyền, nghĩa vụ chung của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 30/8/2024, nguyên đơn bà Lăng Thị T1, ông Lăng Văn Y có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Nguyên đơn bà T1 và ông Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm:

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp có Tờ ủy quyền ngày 16/5/2001 của ông Quan Văn Q là con của bà Hàng Thị L4 xác định ủy quyền cho bà Từ Thị B1 phần đất tọa lạc tại khóm T, phường M, L mà trước đây bà Hàng Thị L4 đã cố cho bà B1 lúc còn sống, bà B1 được toàn quyền sử dụng phần đất trên. Ngoài ra, tại các biên bản đo đạc xác định ranh giới sử dụng đất của ông Dương Phú K (con rễ ông Khổng Văn T9) và bà Khổng Thị H5 (con ông T9) các phần đất trên do ông T9 để lại thì hộ ký tên tứ cận là ông Lăng Văn Y và bà Lăng Thị T1, phía bà L2 và bà M không ký tên tứ cận, cho thấy phần đất nguyên đơn tranh chấp là của bà B1 để lại chứ không phải của ông Khổng Văn T9.

Mặt khác, theo sổ mục kê đất của Ủy ban nhân dân phường M lập năm 2005 thì diện tích đất của ông Y là 110 m² nhưng trên thực tế ông Y chỉ sử dụng 81m², thiếu 29 m². Đất của bà T1 sử dụng theo số mục kê (ông Nguyễn Văn L5 chồng bà T1 đứng tên) là 77,4 m². Cả 2 diện tích của ông Y và bà T1 sử dụng khoảng 160 m², nếu so với diện tích đất của bà B1 nhận cố của bà L4 (220 m²) thì còn thiếu khoảng 60 m². Do đó, đề nghị chấp nhận kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là bà M và các đồng thừa kế của bà L2 trả lại diện tích đất 60 m² tại khóm T, phường M cho các đồng thừa kế của bà B1.

- Bị đơn: bà Khổng Thị M và các đồng thừa kế của bà Khổng Thị L2 vắng mặt, không có ý kiến trình bày tại cấp phúc thẩm.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 266/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn, bà T1, ông Y kháng cáo trong thời hạn luật định và được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn: ông Lăng Văn C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lăng Thị H (bà Huỳnh Thị Ngọc B, bà Huỳnh Thị Ngọc Đ, bà Huỳnh Thị Ngọc H1, bà Huỳnh Thị Ngọc C1, ông Huỳnh Tấn T), người kế thừa ông Lăng Kim V (ông Lăng Kim T2, bà Lăng Thị T3); bà Lăng Thị Mỹ L (Lê Thị Mỹ L1), bà Lăng Thị Thu H2, bà Lăng Thị Lệ T4; bị đơn bà Khổng Thị M, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Khổng Thị L2 (ông Khổng Văn T5) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị T6; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị L3 (Nguyễn Phú C2, Nguyễn Thị Tường V1, Nguyễn Thị Bích T7, đại diện theo pháp luật của Nguyễn Phú H3) vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung:

Diện tích đất tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là 60 m² tọa lạc tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Theo nguyên đơn trình bày đất có nguồn gốc của bà Từ Thị B1 cùng với bà Hàng Thị Đặng N cố của bà Hàng Thị L4 vào năm 1969, diện tích 440m², thời hạn 20 năm (đến năm 1989). Sau đó, bà L4 đã bán cho bà B1 và bà Đ1 diện tích đất trên thể hiện qua Tờ ủy quyền ngày 22/4/2001 của ông Quan Văn Q (con bà L4); Tờ thuận phân cố đất năm 1926 của bà Hàng Thị Đ1, Tờ thuận phân năm 1939 của gia đình bà Hàng Thị L4; Tờ cố đất năm 1969 của bà Hàng Thị L4 cho bà B1 và bà Đ1; Tờ ủy quyền 22/4/2001 của Trần Văn H6 cho ông Lăng Văn Y sử dụng miếng đất.

Năm 1998, bà Từ Thị B1 có cho bà Khổng Thị M và Khổng Thị L2 cất nhà ở tạm, nhưng sau đó bà M, bà L2 cất nhà, lấn chiếm thêm và bán lại cho bà Nguyễn Thị L3, bà Nguyễn Thị T6.

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì trong tờ cố đất năm 1969, tờ ủy quyền của ông H6 và ông Q đều không thể hiện diện tích đất đất của bà Hàng Thị L4 cố cho bà Từ Thị B1 và Hàng Thị Đ1 là bao nhiêu, vị trí đất nhận cố tại đâu. Ngoài ra, nguyên đơn cho rằng, diện tích đất bà B1 và bà Đặng nhận cố của bà Lụa là 440m², bà B1 sử dụng 220m², bà Đ1 sử dụng 220m² nhưng các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đều không thể hiện được diện tích trên.

Về phía bị đơn là bà M và bà L2 (khi còn sống) khai nguồn gốc đất phía nguyên đơn tranh chấp là của cha là Khổng Văn T9 để lại. Năm 1999, bà L2 chuyển nhượng cho bà T6 diện tích ngang trước 2,8m, ngang sau 3,5m; dài 12m. Bà T6 đã sử dụng đất cho đến nay. Năm 2014, bà M chuyển nhượng cho bà L3 diện tích 56 m², trên đất có căn nhà tạm do bà L3 ở từ tháng 9/2015 đến nay.

Như vậy phía bị đơn đều không thừa nhận việc ở nhờ trên đất của bà B1 như trình bày của nguyên đơn. Nguyên đơn cũng không xuất trình được chứng cứ về việc bà B1 cho bà M và bà L2 ở nhờ trên đất vào năm 1998 như lời khai của ông Y, bà T1;

Theo Sổ mục kê đất do Ủy ban nhân dân phường M lập ngày 25/7/2005 thì diện tích đất của bà Lăng Thị T1 (do ông Nguyễn Văn L5, chồng bà T1 đứng tên) là 77,4m², ông Lăng Văn Y là 110,0 m². Tổng cộng là 187,4m², ông Y và bà T1 xác định đất do bà B1 để lại. Nếu so với diện tích đất 220m² (nguyên đơn khai do bà B1 nhận cố của bà L4) thì chênh lệch thiếu là 32,6m². Tuy nhiên nguyên đơn yêu cầu các bị đơn trả lại diện tích 60 m² là không phù hợp. Quan điểm của người bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn cho rằng, ông Y chỉ sử dụng khoảng 81 m² so với 110m² theo Sổ mục kê nên còn thiếu khoảng 60m². Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định ông Lăng Kim V có sử dụng khoảng 16m², cho thấy lời khai của nguyên đơn về việc không sử dụng đủ diện tích đất theo Sổ mục kê để xác định bị đơn lấn chiếm đất là không có căn cứ.

Căn cứ vào kết quả xác minh ngày 18/01/2024 (Bút lục 665), đại diện Ủy ban nhân dân phường M xác định nguồn gốc đất tranh chấp của ông Khổng Văn T9 (cha của bà L2 và bà M) tạo lập từ năm 1945, đến năm 1998 ông T9 chết phần đất này để lại cho anh em của bà L2, bà M quản lý, sử dụng cho đến nay.

Theo Thông báo nộp thuế của Chi cục thuế thành phố L thì từ 2006 đến năm 2012 Chi cục thuế thành phố L có thông báo nộp thuế cho bà T6 diện tích 52m²; bà Khổng Thị M có cung cấp các Thông báo nộp thuế nhà đất các năm 2006, 2011 và biên lai nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từ năm 2012 đến 2013 thể hiện diện tích nộp thuế là 56m².

Mặc dù, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đo đạc được diện tích đất tranh chấp do phía bị đơn không hợp tác, tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ trên cho thấy bị đơn có quá trình sử dụng đất, phù hợp với với kết quả xác minh ngày 18/01/2024. Phía nguyên đơn không chứng minh được nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Từ Thị B1 và cũng không cung cấp được chứng cứ thể hiện bà L2 và bà M ở nhờ trên đất của bà B1 như nguyên đơn trình bày. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà M, bà L2 trả diện tích đất 60m² là có căn cứ.

Bà T1 và ông Y kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ khác chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo và quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và không có đơn đề nghị miễn án phí nên cấp sơ thẩm buộc các nguyên đơn phải chịu án phí không giá ngạch là có căn cứ.

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 để tính án phí không giá ngạch là 300.000 đồng là không đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Do vụ án được thụ lý sơ thẩm ngày 22/10/2014 nên áp dụng Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 để giải quyết. Án phí sơ thẩm không giá ngạch là 200.000 đồng, nên cần sửa bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn phải chịu án phí là 200.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí do bà T1 đã nộp 200.000 đồng, nguyên đơn đã nộp đủ án phí.

[4] Chi phí tố tụng nguyên đơn đã nộp gồm: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ là 5.367.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu chi phí tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện xong.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo là ông Y và bà T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lăng Thị T1 và ông Lăng Văn Y.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 266/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về án phí dân sự sơ thẩm;

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn bà Khổng Thị L2, bà Khổng Thị M có trách nhiệm trả phần diện tích đất 60m² theo Tờ thuận phân ngày 27/8/1939 và Tờ cố đất ngày 20/3/1969, đất tọa lạc tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải liên đới chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 200.000 đồng do bà Lăng Thị T1 đã nộp theo biên lai thu số 08492 ngày 21/10/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ là 5.367.000 đồng (đã thực hiện xong).
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Lăng Văn Y và bà Lăng Thị T1 không phải chịu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tp Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS tp Long Xuyên ;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 45/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về quyền sử dụng đất, chưa có giấy chứng nhận QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger