Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/DS-ST

Ngày: 13 – 9 – 2024

V/v Tranh chấp quyền sử

dụng đất do lấn chiếm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đàng Thị Hồng Lam
  2. Ông Phạm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đồng Mây Hồng Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 13/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 260/2023/TLST-DS ngày 14/12/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất do lấn chiếm” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-DS, ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Tạ Thị H, sinh năm 1947
  2. Địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

    Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Minh H1, sinh năm 1962.

    Địa chỉ: Số G đường L, phường P, Tp. - T, tỉnh Ninh Thuận. (có mặt)

    (Hợp đồng ủy quyền ngày 27/12/2023)

  3. Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1973. (có mặt)
  4. Địa chỉ: Khu phố I, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1973. (có mặt)
    • Địa chỉ: Khu phố I, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

    • - Ông Trần V, sinh năm 1940. (có đề nghị xét xử vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện của bà Tạ Thị H đề ngày 11/12/2023 cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Minh H1 trình bày:

Nguồn gốc đất thửa số 537, tờ bản đồ số 04 diện tích 4.925m² tại thôn L, xã A, huyện N là do cha mẹ bà H cho bà vào khoảng năm 1972. Ngày 05/12/2005 bà được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 062767. Ngày 23/10/2015 bà H và chồng là ông Trần Vĩnh L hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai là anh Trần Thanh T diện tích 3000m² để sản xuất và nuôi dưỡng bà lúc tuổi già. Khi cho đất bà H và anh T không xác định vị trí cũng như không đo đạc cụ thể mà chỉ căn cứ vào diện tích ghi trong giấy chứng nhận, đồng thời giữa bà H và anh T thống nhất với nhau lấy hàng rào ranh nhà bà H làm mốc giới xuống hướng phía nam của thửa đất để phân định ranh giới đất của bà H với anh T. Sau khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất, Trần Thanh T cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H đi điều chỉnh và làm thủ tục cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3000m², thửa 824, tờ bản đồ 04 từ khi nào bà H không biết.

Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T có qua đo đạc hay không bà H không biết, nhưng thời gian gần đây bà H phát hiện phần đất của anh T đã được cấp giấy chứng nhận có lấn sang phần đất của bà H diện tích khoảng 542,09m² (ngang 15m, dài 35,9m) vượt ra khỏi phạm vi hàng rào mà bà H và anh T đã thống nhất. Sự việc đã qua hòa giải tại UBND xã A nhưng không thành. Diện tích qua đo đạc thực tế là 288m².

Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Trần Thanh T trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 288m² tại thửa số 824 (tách từ thửa 537), tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N. Ngoài ra bà H không còn yêu cầu nào khác.

Tại bản tự khai ngày 17/6/2024, cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trần Thanh T trình bày:

Nguồn gốc đất thửa số 537, tờ bản đồ số 04 diện tích 4.925m² tại thôn L, xã A, huyện N là của cha mẹ ông là bà Tạ Thị H và ông Trần V quản lý sử dụng. Ngày 05/12/2005 cha mẹ ông được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 062767 đối với thửa đất như trên.

Ngày 07/10/2015, bà H và ông V có làm hợp đồng tặng cho ông diện tích 3000m² thửa số 824 (tách từ thửa 537), tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N. Việc tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C. Ngày 30/10/2015 ông được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 935018 thửa số 824 (tách từ thửa 537), tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N diện tích 3000m². Tại thời điểm tặng cho đất có tiến hành tách thửa, trích lục đất theo đúng diện tích tặng cho. Sau khi nhận tặng cho vợ chồng ông có canh tác, trồng các loại cây ngắn ngày, dài ngày, làm chuồng nuôi dê, sử dụng ổn định đến nay đúng diện tích.

Nay mẹ ông là bà Tạ Thị H khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại diện tích lấn chiếm là 288m² ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của bà H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X trình bày:

Bà thống nhất với ý kiến trình bày của chồng bà là ông Trần Thanh T về nguồn gốc quyền sử dụng đất thửa số thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N diện tích 3000m² có nguồn gốc do cha mẹ chồng là ông Trần V và bà Tạ Thị H tặng cho chồng bà vào năm 2015 và được được được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 935018. Sau khi nhận tặng cho vợ chồng bà có canh tác, trồng các loại cây ngắn ngày, dài ngày, làm chuồng nuôi dê, sử dụng ổn định đến nay đúng diện tích.

Vì vậy bà cũng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu trả lại diện tích lấn chiếm 288m².

Biên bản lấy lời khai ngày 23/8/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần V trình bày:

Nguồn gốc thửa đất 537, tờ bản đồ số 04 diện tích 4.925m² tại thôn L, xã A, huyện N là của vợ chồng ông (là Trần V và Tạ Thị H) quản lý sử dụng. Ngày 07/10/2015, vợ chồng ông có làm hợp đồng tặng cho con trai là Trần Thanh T diện tích 3000m² thửa số 824 (tách từ thửa 537), tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N. Việc tặng cho có làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và Trần Thanh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Nay vợ ông là bà Tạ Thị H khởi kiện yêu cầu T phải trả lại diện tích lấn chiếm, ông không đồng ý vì T không lấn chiếm phần đất nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu quan điểm về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị H có nội dung: Yêu cầu ông Trần Thanh T phải trả đất lấn chiếm có diện tích 288m² tại thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả lại đất lấn chiếm có diện tích 288m² tại thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Vì vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất do lấn chiếm” theo khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
    2. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần V có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông V theo quy định của pháp luật.
  2. Về yêu cầu khởi kiện:

    Tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện có nội dung: Buộc ông Trần Thanh T phải trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 288m² tại thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

    1. Xét nguồn gốc quyền sử dụng diện tích tranh chấp 288m² (qua đo đạc thực tế) nằm trong một phần diện tích 3000m² thuộc thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 935018, ngày 30/10/2015. Đất có nguồn gốc do ông Trần V và bà Tạ Thị H tặng cho ông Trần Thanh T ngày 07/10/2015 diện tích 3000m², có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và được công chứng tại Văn phòng C1
    2. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa nguyên đơn; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận diện tích 3000m² thuộc thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận do ông Trần V và bà Tạ Thị H là cha, mẹ ông Trần Thanh T tặng cho ông Trần Thanh T. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Nên việc sử dụng diện tích 3000m² thuộc thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận của ông Trần Thanh T là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật về đất đai.

    3. Hiện trạng sử dụng đất thực tế: Qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/5/2024 thể hiện:
    4. Thực tế bà Tạ Thị H đang sử dụng diện tích tranh chấp 288m² (trích lục số 1386/2024, ngày 02/8/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh N) thuộc một phần thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CC 935018, ngày 30/10/2015 cho ông Trần Thanh T.

      Thực tế ông Trần Thanh T đang sử dụng diện tích 2712m² (trích lục số 1386/2024, ngày 02/8/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh N) thuộc thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A ít hơn 288m² so với diện tích ông T đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3000m².

      Như vậy về mặt thực tế bà H đang sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 288m² thuộc một phần của diện tích 3000m² tại thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Trần Thanh T.

    Việc bà Tạ Thị H khởi kiện ông Trần Thanh T yêu cầu trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 288m² nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh (cả về pháp lý và thực tế sử dụng đất) cho yêu cầu của mình. Nên không có căn cứ, không có cơ sở để chấp nhận.

    Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  3. Đối với diện tích 288m² thuộc một phần diện tích 3000m² thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A bà H đang sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Thanh T. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T không có yêu cầu phản tố, nên HĐXX không xét. Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi ông T có đơn khởi kiện theo quy định của pháp.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản và trích lục tổng cộng số tiền 4.575.000 đồng, bà H đã nộp tạm ứng. Do không chấp nhận yêu cầu của bà H, nên bà H phải chịu chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 BLTTDS. Bà H đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản.
  5. Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nhưng có đơn xin miễn tiền án phí thuộc trường hợp là người cao tuổi. Nên miễn án phí DSST cho bà H theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26; Điều 35; Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Khoản 1 Điều 165; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị H có nội dung: Yêu cầu ông Trần Thanh T trả lại phần quyền sử dụng đất do lấn chiếm có diện tích 288m² thuộc thửa số 824, tờ bản đồ số 4 thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Bà Tạ Thị H phải chịu chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản số tiền 4.575.000 đồng. Bà H đã nộp đủ.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Tạ Thị H do là người cao tuổi.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất do lấn chiếm

  • Số bản án: 45/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất do lấn chiếm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Hến yêu cầu ông Tâm trả lại diện tích đất lấn tchiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger