Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HSST

Ngày: 27/09/2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng; Bà Trần Thị Toàn

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 09 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H, Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/HSST ngày 06 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXHSST- HS, ngày 12 tháng 09 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thành V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 01 năm 1994 tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn C và bà: Lê Thị T; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất của gia đình; vợ con; Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Bị cáo có 01 tiền án (Ngày 13/05/2016, Nguyễn Thành V bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 21 tháng tù theo Bản án số 22/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/02/2021, nhưng chưa chấp hành xong bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích; Nhân thân: Bị cáo có 2 nhân thân (Ngày 21/06/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù theo Bản án số 13/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 16/08/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo Bản số 28/HSST; Cả 2 bản án, các hành vi xảy ra trước khi có bản án hình sự sơ thẩm Bản án số 22/HSST ngày 13/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, nên không xác định bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”; bị tạm giữ bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K từ ngày 26/06/2024, sau đó chuyển đến tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay. Bị cáo có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh H.
  2. Họ và tên: Phạm Thị G; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 02 năm 1994 tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Văn T1 và bà: Nguyễn Thị T2; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ ba của gia đình; có chồng: Trần Văn T3 (đã ly thân) và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 03 tháng 7 năm 2024 đến nay; có mặt tại điểm cầu trung tâm.

Bị hại:

  1. Anh Dương Văn L; sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp:Lao động tự do; có mặt
  2. Anh Dương Xuân Đ, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện A, tỉnh Ngệ An; nghề nghiệp:Lao động tự do; vắng mặt
  3. Anh Trần Công P; sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp:Lao động tự do; vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Đào Quốc T4; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Anh Phan Công C1; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, Hà Tĩnh; nghề nghiệp:Lao động tự do; vắng mặt
  • - Anh Đinh Văn N; sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp:Lao động tự do; vắng mặt
  • - Ông Nguyễn Văn C; sinh năm1969; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt

Người tham gia tố tụng khác có mặt tại tại điểm cầu thành phần:

Ông Trần Thượng H; chức vụ: Tổ trưởng tổ hình ảnh; Ông Bùi Quang T5, chức vụ: Tổ viên tổ hình ảnh; Ông Ngyễn Văn T6, chức vụ: Tổ viên hình ảnh. Đều là cán bộ thuộc trại tạm giam Công an H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành VPhạm Thị G có quan hệ tình cảm yêu thương nhau và thuê phòng trọ sống chung với nhau tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên sáng ngày 18/6/2024, V rủ G đi lên vùng rừng núi, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì G đồng ý. Sau đó, V mang theo 01 chiếc tuốc nơ vít rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79V1-343.44 chở G ngồi sau đi theo đường Quốc lộ 12C hướng đi từ xã K, huyện K lên xã L, huyện K để tìm tài sản trộm cắp. Khoảng khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày khi đi qua khu vực vườn tràm B, thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, V phát hiện có 04 chiếc xe mô tô của người dân đi khai thác tràm dựng ở bãi đất trống, nên V điều khiển xe mô tô lại gần và nói với G điều khiển xe mô tô đi ra phía ngoài đường Q cảnh giới còn V xuống xe đi bộ lại, dùng chiếc tuốc nơ vít mang theo phá khóa điện chiếc xe mô tô biển biển kiểm soát 38K1-161.81 của anh Dương Văn L, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, rồi ngồi lên xe nổ máy điều khiển ra đường Quốc lộ 12C nói với G đi trước còn V điều khiển xe mô đi phía sau. Khi đến khu vực vườn tràm gần cây xăng K thuộc phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, VG dừng xe mô tô, cạy cốp xe ra kiểm tra thì thấy bên trong có một chiếc ví, trong ví có 01căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng ATM, 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, đều mang tên anh Dương Văn L và 200.000 đồng tiền ngân hàng N1 đang lưu hành, nên V lấy 200.000 đồng đưa cho G cất giữ rồi lấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 38K1-161.81 bỏ vào túi quần, còn chiếc ví cùng các giấy tờ khác vứt lại tại đây. Tiếp đó VG điều khiển hai xe mô tô đi về khu vực chợ thị xã K để tìm nơi tiêu thụ thì gặp anh Trương Quốc T7, sinh năm 1985, trú tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Bạn của V), nên V nhờ T7 đưa xe đi cầm cố thì T7 đồng ý đưa V đến cửa hàng cầm đồ của anh Phan Công C1, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Khi gặp anh C1, V nói xe của bố V cần tiền cho cầm cố một thời gian rồi lấy và đưa giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh C1 xem, anh C1 đồng ý cầm cố chiếc xe trên với giá 3.000.000 đồng. Sau khi lấy được tiền T7 chở V về chợ thị xã K rồi đi về nhà, sau đó V lấy 500.000 đồng đi mua ma túy về sử dụng một mình, còn lại 2.500.000 đồng đưa cho G cất giữ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, G nghĩ trong chiếc thẻ thẻ ATM, có thể trong tài khoản ngân hàng có tiền, nên G rủ V đi lên chỗ vứt thẻ ATM lúc sáng để tìm lại xem sao. V đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79V1-343.44 chở G đi đến khu vực trên, tại đây VG tìm thấy ví, trong đó có thẻ ATM cùng với căn cước công dân của anh Dương Văn L. Khi xem căn cước công dân anh L thì thấy ngày sinh là 09/9/1970 nên VG, suy luận có thể mật khẩu truy cập thẻ là 090970, rồi VG lấy thẻ ATM đến cây rút tiền tự động của ngân hàng V1 ở gần ngã tư phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, cắm thẻ và nhập mật khẩu 090970 thì ngẫu nhiên đúng. Do không biết số tiền trong tài khoản có bao nhiêu nên 02 lần đầu V rút mỗi lần 500.000 đồng, 03 lần sau V rút mỗi lần 2.000.000 đồng, lần thứ 6 V kiểm tra và rút hết số tiền 1.400.000 đồng còn lại trong thẻ, tổng số tiền V rút từ thẻ ATM của anh L là 8.400.000 đồng. Sau khi rút hết số tiền trong tài khoản thẻ V đưa toàn bộ cho G cất giữ rồi đưa căn cước công dân, thẻ ATM ví da về cất giữ tại phòng trọ. Số tiền trộm cắp được của ông L, VG đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Ngày 24/06/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K triệu tập Nguyễn Thành VPhạm Thị G lên làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, VG đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp các tài liệu đồ vật liên quan. Ngày 26/06/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khởi tố vụ án về tội trộm cắp tài sản, đến ngày 03/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành VPhạm Thị G về tội “Trộm cắp tài sản” để điều tra theo quy định.

Theo kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 01/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ, biển kiếm soát 38K1-161.81 trị giá 4.500.000 đồng; 01 chiếc ví da màu nâu, bên ngoài có khắc chữ VIP, đã qua sử dụng trị giá 50.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản Nguyễn Thành VPhạm Thị G chiếm đoạt của ông Dương Văn L là 13.150.000 đồng, gồm 8.600.000 đồng tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành, một chiếc xe mô tô trị giá 4.500.000 đồng và một chiếc ví da trị giá 50.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K còn điều tra làm rõ, ngoài lần phạm tội nói trên trong khoảng thời gian từ ngày 08/6/2024 đến ngày 10/6/2024, Nguyễn Thành V còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, trong đó có 1 lần 01 mình thực hiện hành vi, còn 01 vụ có Phạm Thị G giúp sức, cụ thể như sau:

+ Vụ thứ 1: Vào chiều ngày 08/6/2024, Nguyễn Thành V rủ Phạm Thị G vào khu vực nhà máy N2 trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, thì Phạm Thị G đồng ý. V lấy chiếc tuốc nơ vít bỏ trong người và điều kiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-1020 chở G đi xuống nhà máy N2, thuộc địa phận phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày khi đến bãi đất trống trước cổng nhà máy N2, thuộc địa phận thôn H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thấy có nhiều xe mô tô của công nhân nhà máy N2 dựng ở đây, nhưng không có người trông coi, nên V dừng xe lại xuống xe, còn G điều khiển xe mô tô đi ra ngoài đường chờ. Sau đó V đi bộ lại dùng tuốc nơ vít cạy mở khóa điện xe mô tô biển kiểm soát 37M1-147.32 của anh Dương Xuân Đ, sinh năm 1992, trú tại thôn D, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An là công nhân nhà máy N2 rồi ngồi lên xe nổ máy đi ra cùng với G đưa về phòng trọ tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cất dấu. Khi về đến phòng trọ do không có phương tiện sử dung đi lại, nên V tháo biển kiểm soát ra cất dấu trong phòng rồi nói với G để lại sử dụng làm phương tiện đi lại và trả xe mô tô biển kiểm soát 38K1-1020 cho ông Nguyễn Văn C (Bố đẻ V). Ngày hôm sau khi đi qua bãi rác thuộc phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, V nhặt được một biển kiểm soát 79V1-343.44 vứt tại đây rồi lấy đưa về gắn vào chiếc xe mô tô trộm cắp được của anh Đ nói trên làm phương tiện đi lại.

Theo kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG ngày 26/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ, đen, biển kiểm soát 37M1-147.32, số khung: RLCS5C6J06Y180157; số máy: 5C6J180159, trị giá 5.000.000 đồng.

+ Vụ thứ 2: Vào chiều ngày 10/06/2024, Phạm Thị G không ở cùng với Nguyễn Thành V tại phòng trọ, nên V mang theo chiếc tuốc nơ vít rồi một mình bắt xe ô tô Buýt từ phòng trọ đến khu vực nhà máy N2 để trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 15 giờ cùng ngày V xuống xe đi bộ đến bãi đất trống trước cổng nhà máy N2, thuộc địa phận thôn H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thấy có nhiều xe mô tô của công nhân nhà máy N2 dựng ở đây, nhưng không có người trông coi, nên V đi bộ lại dùng tuốc nơ vít cạy mở khóa điện xe mô tô biển kiểm soát 38N2-6313 của anh Trần Công P, sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh công nhân nhà máy N2 rồi ngồi lên xe nổ máy chạy về tại phòng trọ cất dấu, quá trình đi trên đường thì biển số xe bị rơi lúc nào không biết. Đến ngày 12/6/2024 V điều khiển xe mô tô lên nhà anh Đinh Văn N, sinh năm 1992, trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, (Em rể V) nói với anh N có chiếc xe mô tô của bạn V không sử dụng, nên nhờ V bán hộ, anh N xem xe rồi hỏi V giấy tờ xe ở đâu thì V nói giấy tờ bạn V đang cầm, nếu anh N mua thì hôm sau V sẽ đưa lên giao cho anh N, N hỏi giá báo nhiêu, V bảo giá 2.000.000 đồng, nên anh N đồng ý mua chiếc xe với giá 2.000.000 đồng, số tiền bán xe Vinh tiêu xài cá nhân hết. Khi mua xe mô tô anh Đinh Văn N không biết tài sản do trộm cắp mà có.

Theo kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG ngày 26/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, đỏ, biển kiểm soát 38N2-6313, số khung: RLHHA08006Y086280; số máy: HA08E0936202, trị giá 2.500.000 đồng.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật và xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý các vật chứng bao gồm:

+ Vật chứng thu giữ đã xử lý:

  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 38K1-161.81 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 38K1-161.81; 01 căn cước công dân, đều mang tên Dương Văn L; 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị Y; 01 thẻ AMT của ngân hàng V2 mang tên Duong Văn L1; 01 ví da màu nâu, bên ngoài có khắc chữ VIP, đã qua sử dụng, thu của Nguyễn Thành VPhạm Thị G, nay đã lại cho chủ sở hữu anh Dương Văn L.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen, đỏ, số khung RLVS5C6J106Y180157, số máy 5C6J180159 không gắn biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát 37M1-147.32 thu của Nguyễn Thành VPhạm Thị G, nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Dương Xuân Đ.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, đỏ, số khung RLHHA08006Y086280, số máy HA08E936202 không gắn biển kiểm soát thu của anh Đinh Văn N, nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Trần Công P.

+ Vật chứng không thu giữ được:

  • - 01 biển kiểm soát xe mô tô 38N2-6313, do sau khi trộm cắp trên đường từ nhà máy N2 về phòng trọ, V không biết làm rơi ở vị trí nào, mặc dù Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.
  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 38K1-1020 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn C, quá trình đi khai thác tràm trong rừng ông C đã làm mất, nên không thu giữ được.

+ Vật chứng thu giữ chưa xử lý:

  • - 01 Biển kiểm soát xe mô tô số 79V1-343.44; 01 tuốc nơ vít có chiều dài 20cm, phần cán nhựa màu vàng, lưỡi kim loại, một đầu được tán dẹt, một đầu có chi tiết 4 chấu đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh.

Về dân sự:

Các bị hại anh Dương Văn L, anh Dương Xuân Đ, anh Phan Công P1, đều nhận lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Anh Đinh Văn N, anh Phan Công C1 không yêu cầu bồi hoàng số tiền các bị cáo bạn tài sản trộm mà có.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT- VKSKA ngày 05 tháng 09 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành V, bị cáo Phạm Thị G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Thành V mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam (ngày 26/6/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phạm Thị G mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm án.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu huỷ 01 tuốc nơ vít có chiều dài 20cm, phần cán nhựa màu vàng, lưỡi kim loại, một đầu được tán dẹt, một đầu có chi tiết 4 chấu; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 79V1-343.44.
    • + Số tiền do phạm tội mà có 5.000.000 đồng, tại hồ sơ anh Phan Công C1 và anh Đinh Văn N không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên đề nghi HĐXX không truy thu của các bị cáo.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc Nguyễn Thành V, Phạm Thị G, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát; Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bản thân có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/6/2024 đến ngày 18/6/2024, Nguyễn Thành V đã 02 lần rủ Phạm Thị G có hành vi lén lút lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sỡ hữu thực hiện 02 vụ trộm cắp 02 chiếc xe mô tô, 01 ví da và 8.600.000 đồng tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành trên địa bàn huyện K và thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, với tổng trị giá tài sản 18.150.000 đồng với động cơ chiếm đoạt tài sản người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Thành V, Phạm Thị G đã phạm vào tội trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không có gì oan sai.

[3] Nguyễn Thành V, Phạm Thị G là những thanh niên có sức khoẻ, nhưng lười lao động, có lối sống buông thả. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó thể hiện sự táo bạo và liều lĩnh, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người.

[4] Vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự phân cômng câu kết chặt chẽ với nhau. Nguyễn Thành V 01 lần thực hiện hành vi 1 mình, 02 lần đồng phạm với Phạm Thị G với vai trò người khỏi xưỡng và thực hành tích cực, còn Phạm Thị G 02 lần đồng phạm với Nguyễn Thành V với vai trò người giúp sức.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành V phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” và “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Phạm Thị G phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành V, Phạm Thị G được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt trong đó bị hại ông Dương Văn L tại phiên toà xin cho bị cáo G được hưởng án treo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét tính chất mức độ hành vi, vị trí vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử cần xét xử Nguyễn Thành V một mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Còn đối với bị cáo Phạm Thị G có 01 tình tiết tăng nặng, có 3 nhiều tình tiết giảm nhẹ (trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự), bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội, tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.

[8] Về hình phạt bổ sung: Nguyễn Thành V, Phạm Thị G là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Trong vụ án này có anh Đinh Văn N là người mua của Nguyễn Thành V chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, đỏ, số khung RLHHA08006Y086280, số máy HA08E936202 nhưng anh N không biết xe là do V phạm tội mà có do đó anh N không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với ông Nguyễn Văn C, chủ xe mô tô biển kiểm soát 38K1-1020. Quá trình điều tra xác định việc V dùng xe mô tô đi thực hiện hành vi phạm tội ông C không biết, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với anh Đào Quốc Toản, sinh năm 1985, trú tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh là người đã chỉ địa điểm cho Nguyễn Thành V cầm cố chiếc xe mô tô kiểm soát 38K1-161.81. Quá trình điều tra xác định khi anh T7 đưa V đi cầm cố tài sản, anh T7 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với anh Phan Công C1, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là người đã cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-161.81 do V trộm cắp được mà có. Quá trình điều tra xác định khi nhận cầm cố tài sản, anh C1 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[10] Vật chứng vụ án: 01 Biển kiểm soát xe mô tô số 79V1-343.44 do V nhặt được từ bãi rác và 01 tuốc nơ vít có chiều dài 20cm, phần cán nhựa màu vàng, lưỡi kim loại, một đầu được tán dẹt, một đầu có chi tiết 4 chấu, V dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Về biện pháp tư pháp:

Sau khi bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường, tuy nhiên sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bán tài sản và có số tiền để tiêu xài cá nhân, cụ thể: Bị cáo V đã bán cho anh Đinh Văn N với giá 2.000.000 đồng, số tiền này bị cáo V dùng tiêu xài cá nhân hết. Ngày 18/6/2024, sau khi cùng G thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thành V đã cầm cố xe mô tô biển biển kiểm soát 38K1-161.81 cho anh Phan Công C1 với giá 3.000.000 đồng. Số tiền này bị cáo đã lấy 500.000 đồng mua ma tuý dùng, còn 2.500.000 đồng bị cáo cùng G tiêu xài cá nhân hết.

Số tiền do phạm tội mà có do các bị cáo cầm cố tài sản trôm được 5.000.000 đồng, tại hồ sơ anh Phan Công C1 và anh Đinh Văn N không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không truy thu của các bị cáo.

[12] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thành V
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Phạm Thị G
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo. Xử:
  1. Về tội danh và hình phạt chính: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành V, Phạm Thị G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam (ngày 26/6/2024).
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Thị G 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Thị G cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  2. Về xử lý vật chứng:
  3. Tịch thu tiêu huỷ 01 biển kiểm soát xe mô tô số 79V1-343.44 do bị cáo V nhặt được từ bãi rác và 01 tuốc nơ vít có chiều dài 20cm, phần cán nhựa màu vàng, lưỡi kim loại, một đầu được tán dẹt, một đầu có chi tiết 4 chấu (Đặc điểm và tình trạng các vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 9 năm 2024).

  4. Về án phí: Xử buộc các bị cáo Nguyễn Thành V, Phạm Thị G, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an Hà Tĩnh (PV 06)
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an huyện Kỳ Anh (2 bản);
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn, HS vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành V, Phạm Thị G phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger