Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHỤNG HIỆP

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Bùi Văn Phục
  • 2/ Ông Nguyễn Thế Tự

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Bảo Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lưu Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978 tại P, Hậu Giang; nơi cư trú: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lưu Văn H và bà Nguyễn Thị P; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Lưu Văn T bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1988 (Có mặt)

Trú tại: ấp L, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn G, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
  2. Nguyễn Vũ E, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
  3. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968 (Vắng mặt)
  4. Trần Thị T2, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 20/8/2023, bị hại Nguyễn Hữu T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Novou LX, màu đỏ, đen, biển số kiểm soát 6089 - 087.33 chở phía sau Nguyễn Vũ E ghé nhà của ông Nguyễn Văn G ở ấp L, xã H, huyện P để Vũ E lấy chiếc điện thoại di động gửi sạc trước đó ở nhà ông G. Khi đến nhà ông G, Vũ E đi vào bên trong nhà thì gặp bị cáo Lưu Văn T, bị cáo T nói chiếc điện thoại là của chị Trần Thị T2, bị hại T1 nghe vậy nên đi vào nhà kêu bị cáo T trả điện thoại cho Vũ E thì bị cáo T đồng ý trả, do lúc đầu nghĩ là điện thoại của chị Trần Thị T2. Sau đó bị hại T1 nhắc lại chuyện bị cáo T còn nợ bị hại T1 số tiền 100.000 đồng nhưng không trả nên dẫn đến cự cãi. Bị hại T1 dùng tay tát vào vùng mặt bị cáo T, do bị đánh nên bị cáo T chạy vào khu vực nhà bếp lấy 01 cây dao mũi bằng (loại dao chét), dài 49cm chém trúng vào vùng đầu của bị hại T1 một nhát, bị hại T1 giật lấy cây dao, sử dụng bề sóng chém trúng vào vùng đầu của bị cáo T nhiều nhát thì ông G đến can ngăn, sau đó đưa bị hại T1 và bị cáo T đi điều trị.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 251/KLTTCT-TTPY ngày 29/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh H đối với bị hại Nguyễn Hữu T1:

  1. Các kết quả chính:
    • - Vết sẹo phần mềm vùng đỉnh, chẩm phải,
    • - Nứt xương bản sọ đỉnh, chẩm phải.
  2. Kết luận:

    2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T1 tại thời điểm giám định: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư

    2.2. Tỷ lệ phần trăm thương tích từng vết thương: Vết sẹo vùng đỉnh, chẩm phải (nứt xương bản sọ đỉnh, chẩm phải) gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 16% (Mười sáu phần trăm)

    2.3. Cơ chế hình thành vết thương: Vết sẹo vùng đỉnh chẩm phải của ông Nguyễn Hữu T1 do vật sắc bén tác động trực tiếp gây nên.

    2.4. Vật gây ra thương tích: Vết sẹo vùng đỉnh chẩm phải do vật sắc bén gây nên.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 16/KLTTCT TTPY ngày 12/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh H đối với bị cáo Lưu Văn T:

  1. Các kết quả chính:
    • - Sẹo phần mềm chẩm trái, sau tai trái;
    • - Đứt vỏ xương sọ đã hồi phục không để lại dấu vết.
  2. Kết luận:

    2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lưu Văn T tại thời điểm giám định: 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    2.2. Tỷ lệ phần trăm thương tích từng vết thương:

    • - Vết sẹo vùng chẩm trái gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 03% (Ba phần trăm);
    • - Vết sẹo sau tai trái gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 02% (Hai phần trăm);

    2.3. Cơ chế hình thành vết thương: Vết sẹo chẩm trái, sau tai trái của ông Lưu Văn T do vật sắc bén tác động trực tiếp gây nên.

    2.4. Vật gây ra thương tích: Vết sẹo chẩm trái, sau tai trái do vật sắc bén gây nên.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-VPH ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích

Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lưu Văn T với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22/12/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 49cm, mũi bằng, phần lưỡi dao dài 36cm, cán dài 13cm.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ chi phí là 6.500.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo biết sai, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Hậu Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Riêng theo khoản 2 Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc Thông báo cho bị hại, đương sự về việc truy tố bị cáo trước Tòa án, nhưng hồ sơ không thực hiện đúng quy định này. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện theo như nội dung của bản cáo trạng đã nêu. Qua phân tích, đánh giá những vấn đề được tranh tụng tại phiên toà, các chứng cứ, tài liệu được thể hiện trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, đã có đủ cơ sở chứng minh được rằng:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 20/8/2023, bị hại T1 nhắc lại chuyện bị cáo T còn nợ bị hại T1 số tiền 100.000 đồng nhưng không trả nên dẫn đến cự cãi. Bị hại T1 dùng tay tát vào vùng mặt bị cáo T, do bị đánh nên bị cáo T chạy vào khu vực nhà bếp lấy 01 cây dao mũi bằng (loại dao chét), dài 49cm chém trúng vào vùng đầu của bị hại T1 một nhát, bị hại T1 giật lấy cây dao, sử dụng bề sóng chém trúng vào vùng đầu của bị cáo T nhiều nhát. Theo kết luận giám định tổng tỷ lệ phần trăm thương tích gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại của bị hại là 16%. Việc bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Cho nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội bị cáo:

Bị cáo T đã thành niên, có đầy đủ nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì bực tức khi bị hại dùng tay tát vào vùng mặt bị cáo mà bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bị hại gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, xét hành vi gây thương tích của bị cáo cũng có phần lỗi của bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ chi phí là 6.500.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 49cm, mũi bằng, phần lưỡi dao dài 36cm, cán dài 13cm.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên tòa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với thương tích bị hại Nguyễn Hữu T1 gây ra cho bị cáo Lưu Văn T, bị cáo không có yêu cầu xử lý về trách nhiệm hình sự và dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Các Điều 584, 585, 586, 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22/12/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo Lưu Văn T phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu T1 số tiền là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại màu đen dài 49cm, mũi bằng, phần lưỡi dao dài 36cm, cán dài 13cm.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Phụng Hiệp;
  • - Công an huyện Phụng Hiệp;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Tuấn Khanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Văn Phục – Nguyễn Thế Tự

Võ Văn Tuấn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger