|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 23- 9- 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hà
Ông Nguyễn Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài D - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Cái Văn H- Sinh năm: 1991 tại Gia Lai; Hộ khẩu thường trú: Tổ A, TT. Kbang, huyện K, tỉnh Gia Lai; Chổ ở hiện nay: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha Cái Văn T - sinh năm 1966 và mẹ Bùi Thị Kiêm Q - sinh năm: 1969; vợ Lý Thị D1 (đã ly hôn) và 02 con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 3 anh em.
Tiền án: Tại bản án số 07/2018/HSST ngày 01/02/2018 của TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tuyên phạt Cái Văn H 08 năm 03 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/6/2023.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 10/11/2008, Cái Văn H bị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 04 tháng 15 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 08/4/2010, Cái Văn H bị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 13 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt từ ngày 24-6-2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Cái Văn H1- Sinh năm 1996 tại Gia Lai; Hộ khẩu thường trú: Tổ A, TT. Kbang, huyện K, tỉnh Gia Lai; Chổ ở hiện nay: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha Cái Văn T - sinh năm 1966 và mẹ Bùi Thị Kiêm Q - sinh năm: 1969; Vợ, con chưa có; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 3 anh em.
Tiền án: Tại bản án số 07/2018/HSST ngày 01/02/2018 của TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tuyên phạt Cái Văn H1 07 năm 11 tháng, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/6/2023.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 24-6-2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Phạm Công B- sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ H khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
+ Ông Phan Văn V- sinh năm 1996; Địa chỉ: 211AÔ4 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Cái Văn T- sinh năm: 1966; Trú tại: Tổ A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; Chổ ở hiện nay: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cái Văn H và Cái Văn H1 có mối quan hệ là anh em ruột. Để có chim nuôi và không phải tốn tiền mua nên từ ngày 16-18 tháng 6 năm 2024, hai bị cáo đã cùng rủ nhau thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại Phạm Công B, Phan Văn V. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào rạng sáng ngày 16/6/2024, Cái Văn H điều khiển xe mô tô biển số 81H1-250.51 chở theo H1 đi từ nhà trọ tại khu phố L, thị trấn L, huyện L xuống huyện Đ. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu T, thị trấn Đ, huyện Đ thì phát hiện nhà ông Phạm Công B có lồng chim đang treo trước sân nên H dừng xe lại. Cả hai bàn bạc phân công, H1 đứng bên ngoài trông xe và cảnh giới, H leo vào trong sân nhà ông B để trộm chim. Sau đó, H leo rào vào nhà ông B và đi đến lấy 01 (một) lồng chim bằng gỗ hình trụ tròn màu vàng, bên trong lồng nhốt một con chim Khướu, có đặc điểm: khướu bạc má, lông màu đen xám, lông phần cổ trắng, chân trái con chim có thắt một vòng dây rút nhựa màu tím. Tiếp đến, H xách lồng chim và chim đi ra phía hàng rào, H1 bên ngoài phụ giúp H đỡ lồng chim và chim ra ngoài, H leo ra khỏi hàng rào rồi H1 điều khiển xe mô tô chở H cùng lồng chim này về lại nhà đang thuê ở khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh BR-VT để cất giấu.
Vụ thứ hai: Vào tối ngày 18/6/2024, H tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 81H1-250.51 chở H1 đi lòng vòng tại các khu dân cư thuộc thị trấn Đ, huyện Đ để xem có nhà nào nuôi chim cảnh không để vào lấy trộm. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, cả hai phát hiện tại nhà ông Phan Thanh V1 tọa lạc khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh BR-VT phía trước sân nhà có treo một lồng chim. H dừng xe lại và đứng bên ngoài trông xe, cảnh giới, H1 lén lút đi đến rồi leo hàng rào vào trong nhà lấy ra lồng cùng chim bên trong lồng, H đến đỡ lồng chim ra khỏi hàng rào để H1 leo ra ngoài. Sau đó, H điều khiển chiếc xe mô tô nói trên chở H1 ngồi sau cầm theo lồng chim và chim đi về nhà đang thuê ở khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cất giấu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Đ kết luận:
- Vụ thứ nhất: 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ màu vàng tại thời điểm định giá ngày 16/6/2024 có giá 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng), 01 con chim Khướu, có đặc điểm: khướu bạc má, lông màu đen xám, lông phần cổ màu trắng, chân trái con chim có thắt một vòng dây rút nhựa màu tím tại thời điểm định giá ngày 16/6/2024 có giá 1.900.000đ (Một triệu chín trăm ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản lồng chim và chim là: 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm ngàn đồng).
- Vụ thứ hai: 01 lồng chim bằng gỗ hình hộp màu vàng đỏ tại thời điểm ngày 18/6/2024 có giá 600.000đ (Sáu trăm ngàn đồng), 01 con chim Khướu, có đặc điểm: khướu bạc má, lông màu đen xám, lông cổ màu trắng tại thời điểm ngày 18/6/2024 có giá 1.900.000đ (Một triệu chín trăm ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản lồng chim và chim là: 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Về vật chứng thu giữ và xử lý:
- 01 (Một) lồng chim bằng gỗ hình trụ tròn màu vàng, bên trong lồng nhốt một con chim Khướu, có đặc điểm: khướu bạc má, lông màu đen xám, lông phần cổ trắng, chân trái con chim có thắt một vòng dây rút nhựa màu tím. Tình trạng: còn sống. Quá trình điều tra xác định lồng chim và con chim trên là tài sản thuộc sở hữu của ông Phạm Công B. Ngày 26/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại lồng chim và con chim trên cho ông B.
- 01 (Một) lồng chim bằng gỗ hình hộp màu vàng đỏ, bên trong có nhốt một con chim Khướu, có đặc điểm: khướu bạc má, lông màu đen xám, lông cổ màu trắng. Tình trạng: còn sống. Quá trình điều tra xác định lồng chim và con chim trên là tài sản thuộc sở hữu của ông Phan Thanh V1. Ngày 26/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại lồng chim và con chim trên cho ông V1.
- 01 (Một) xe mô tô biển số 81H1-250.51 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 81 004190, tên chủ xe: Cái Văn T (cha các bị cáo). Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Cái Văn T, các bị cáo lấy xe mô tô chở nhau đi trộm cắp tài sản ông T không biết. Ngày 17/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe trên cho ông T quản lý.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Công B, ông Phan Thanh V1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại cáo trạng số 45/CT- VKSĐĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố các bị cáo Cái Văn H, Cái Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội như sau:
- Về tội danh: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo như cáo trạng nêu trên.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều Điều 58, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo H từ 12 đến 14 tháng tù, H1 từ 12 đến 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là có tội, đồng ý với quyết định truy tố của cáo trạng Viện kiểm sát và hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và công nhận cáo trạng truy tố đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định vụ án như sau:
Từ ngày 16-18 tháng 6 năm 2024, Cái Văn H và Cái Văn H1 đã 02 lần có hành vi lén lút trèo vào nhà các bị hại Phạm Công B, Phan Văn V để chiếm đoạt lồng và chim trong lồng đem về nhà nuôi . Cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào rạng sáng ngày 16-6-2024, tại nhà của anh Phạm Công B tọa lạc khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cái Văn H cùng Cái Văn H1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh B 01 (một) lồng chim bằng gỗ hình trụ tròn màu vàng, bên trong lồng nhốt một con chim Khướu, có đặc điểm: khướu bạc má, lông màu đen xám, lông phần cổ trắng, chân trái con chim có thắt một vòng dây rút nhựa màu tím với trị giá 2.300.000đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng).
- Lần thứ hai: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19-6-2024, tại nhà của anh Phan Văn V tọa lạc khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cái Văn H cùng Cái Văn H1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh V 01 (một) lồng chim bằng gỗ hình hộp màu vàng đỏ, bên trong có nhốt một con chim Khướu, có đặc điểm: Khướu bạc má, lông màu đen xám, lông cổ màu trắng với trị giá 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Do đó, hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ thể chất và tinh thần, các bị cáo nhận thức rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn hưởng thụ mà không phải vất vả lao động nên bị cáo cùng đồng phạm vẫn thực hiện. Các bị cáo là những người từng có tiền án, vừa chấp hành xong hình phạt tù “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án tích mà còn tái phạm và riêng bị cáo H còn có nhân thân rất xấu (vào năm 2018, 2010 cũng bị Tòa án huyện Kbang xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản) nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục trộm cắp tài sản nhiều lần. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng nhằm cải tạo, giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: Giữa Cái Văn H và Cái V không có sự cấu kết chặt chẽ nên chỉ thuộc đồng phạm giản đơn. Vụ thứ nhất bị cáo H tham gia với vai trò trực tiếp lấy trộm tài sản, H1 tham gia với vai trò giúp sức tích cực (đứng ngoài cảnh giới, nhận tài sản chiếm đoạt được và giúp leo ra ngoài, đưa tài sản về cất giấu). Đối với vụ thứ hai, bị cáo H1 là người trực tiếp leo vào lấy trộm tài sản và H là người giúp sức tích cực (chở H1 đi, nhận tài sản chiếm đoạt được và giúp leo ra ngoài, đưa tài sản về cất giấu). Như vậy, về mức độ, hành vi của hai bị cáo trong vụ án này là gần tương đồng nhau. Song, so với bị cáo H thì bị cáo H1 có nhân thân tốt hơn. Do đó, cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo H cao hơn bị cáo H1.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần và phạm tội lần này chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn nên được áp dụng s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Cái Văn H, Cái Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm s, h khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Cái Văn H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bắt là 24-6-2024.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm s, h khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Cái Văn H1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bắt là 24-6-2024
2. Về án phí: Bị cáo Cái Văn H, Cái Văn H1 mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp có quyền làm đơn kháng cáo, kháng nghị bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 (Ba mươi) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23-9-2024). Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản"
