Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAKRÔNG

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 30/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

  • + Ông Nguyễn Văn Thuận - Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Đakrông
  • + Bà Hồ Thị Lan Phụng – Phó trưởng ban Dân vận huyện ủy Đakrông.

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Nam Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 11/6/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 02/2014/HSST-QĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đinh Văn V (Tên gọi khác: T), sinh ngày 24 tháng 4 năm 2004, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái máy xúc; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Q, sinh năm 1967 và bà Đỗ Thị Hồng L, sinh năm 1969; vợ, con: chưa có tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 09/8/2023 đến ngày 09/11/2023; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

    - Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn V: Ông Nguyễn Đức T1 - Văn phòng L5- Đoàn luật sư Q2. Có mặt.

  2. Nguyễn Kế A, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2005, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học Sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kế Á, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1986; vợ, con: chưa có tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 09/8/2023 đến ngày 20/9/2023; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  3. Nguyễn Văn T10, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2005 ( đến ngày 02/6/2023, ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng), tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn S (đã chết) và bà Nhan Thị A1, sinh năm 1965; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  4. Mai Văn L2, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2005, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn S1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1973; vợ, con: chưa có tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 24/8/2023 đến ngày 03/10/2023; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  5. Nguyễn Quang V1, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2007( đến ngày 02/6/2023, ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi 8 tháng 20 ngày), tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V2, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quang V1: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang V1: Bà Lê Thị Thủy N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt.

  6. Nguyễn Khánh N1, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2007(đến ngày 02/6/2023, ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 4 tháng 12 ngày), tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khánh H1, sinh năm 1978 và bà Phan Thị T3, sinh năm 1987; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khánh N1: Ông Nguyễn Khánh H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh N1: Bà Lê Thị Thùy L3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt.

  7. Lê Xuân B, sinh ngày 10 tháng 6 năm 2005 ( đến ngày 02/6/2023, ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 22 ngày), tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1981 và bà Phan Thị Y, sinh năm 1984; vợ, con: chưa có tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  8. Trịnh Minh P, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2008(đến ngày 02/6/2023, ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi 3 tháng 28 ngày), tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Minh V3, sinh năm 1985 và bà Hà Thị B1, sinh năm 1990; vợ, con: chưa có tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Minh P: Bà Hà Thị B1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    - Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Minh P: Bà Lê Đỗ Diệu H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Chí K, sinh ngày 02/01/2006; nơi cư trú; Khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • + Ông Nguyễn Kế Á, sinh 1973. nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  • + Anh Tạ Đình Thiên K1, sinh ngày 22/10/2006; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt

    Người đại diện hợp pháp của anh Tạ Đình Thiên K1: Ông Tạ Đình T4, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt

  • + Anh Hồ Anh T5, sinh ngày 05/9/2006; nơi cư trú: Thôn X, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của anh Hồ A2 T5: Ông Hồ Văn C1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn X, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. . Có mặt.

  • + Anh Từ Đình N2, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • + Chị Lê Thị Mỹ L4, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt
  • + Anh Đào Văn M, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt
  • + Chị Hà Thị N3, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt

  • + Anh Hoàng Tường H3, sinh năm 2007; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt

    Người đại diện hợp pháp của anh Hoàng T6 H3: Bà Lê Thị Mỹ S2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt

  • + Anh Nguyễn Anh Q1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

Người giám định : Ông Võ Ngọc T7- Giám định viên- Trung tâm pháp y tỉnh Q- Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 00 ngày 02/6/2023, Đinh Văn V, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Kế A, Lê Xuân B, Mai Văn L2Hoàng Tường H3 cùng nhau đi đến ngồi chơi bên phải (theo hướng B - T) khu vực Cầu T nơi tiếp giáp giữa hai xã T và xã B. Lúc này, cách đó khoảng 15 đến 20 mét có nhóm của Hoàng Chí K, Hồ Văn T8, Từ Đình N2, Lê Thị Mỹ L4, Đào Văn M, Phan Văn P1, Tạ Đình Thiên K1Hà Thị N3 cũng ngồi chơi bên phải Cầu T9 (theo hướng Triệu Nguyên – B). Một lúc sau, Mai Văn L2Linh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74K1-103.53 chạy về thôn M, xã B đón thêm Nguyễn Quang V1Nguyễn Anh V4 đi đến khu vực trên. Cũng lúc này, do tưởng nhóm của Hoàng Chí K ngồi bên kia là những người ở thị xã Q lên chơi nên Đinh Văn V nảy sinh ý định đánh dằn mặt. Đinh Văn V nói với Nguyễn Kế ANguyễn Văn T10: “Đi kiếm cho tau cái đùi”, Nguyễn Kế ANguyễn Văn T10 mặc dù không hỏi về mục đích cụ thể nhưng biết được ý định của Đinh Văn V muốn lấy gậy để đánh nhau. Nguyễn Kế A điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 74AK-002.06 chở Nguyễn Văn T10 chạy về hướng Ba Lòng lấy 03 thanh gỗ, mỗi thanh dài khoảng 40 đến 60cm bên đường, rồi quay lại Cầu T. Nguyễn Văn T10 để 03 thanh gỗ xuống mặt đường trước mặt Đinh Văn V, lúc này Mai Văn L2 chở Nguyễn Quang Vlang VỹNguyễn Anh Q1 cùng đi đến. Đinh Văn V dùng tay phải lấy một trong số 03 thanh gỗ mà Nguyễn Văn T10Nguyễn Kế A đem về, rồi đi qua nhóm của Hoàng Chí K đang ngồi. Hoàng Chí K ngồi giữa Lê Thị Mỹ L4Hà Thị N3, xoay lưng về phía Đinh Văn V nên Hoàng Chí K không thấy Đinh Văn V đi tới. Khi còn cách Hoàng Chí K khoảng 0,7 mét, Đinh Văn V cầm thanh gỗ ở tay phải đưa ra sau rồi đánh một cái từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng đầu phía sau, bên phải của Hoàng Chí K thì thanh gỗ rơi xuống mặt cầu. Đinh Văn V nhặt lại thanh gỗ và đánh tiếp một cái vào vùng vai phải của Hoàng Chí K, rồi bỏ đi. Ngay sau đó, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Kế A, Nguyễn Quang V1, Mai Văn L2Lê Xuân B cùng xông vào dùng tay, chân đấm đá vào các bộ phận trên cơ thể Hoàng Chí K. Lúc này, Trịnh Minh P là bạn của nhóm Đinh Văn V đi đến khu vực Cầu T khi sự việc đánh nhau đang xảy ra. Thấy vậy, Trịnh Minh P vào tham gia dùng tay đánh vào người của Hoàng Chí K. Bị đánh Hoàng Chí K co người lại, lấy tay che vùng đầu,

Lê Thị Mỹ L4 dùng tay che đầu cho Hoàng Chí K nên Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Kế A, Nguyễn Quang V1, Mai Văn L2uân B và Trịnh Minh P đánh vào các vị trí từ vùng đầu trở xuống rồi bỏ đi hướng về xã B. Do Nguyễn Khánh N1 nói quên dép, nên nhóm của Đinh Văn V điều khiển xe quay lại Cầu T (Riêng Lê Xuân B không quay lại). Thấy vậy, nhóm của Hoàng Chí K bỏ chạy hướng xã T thì bị Đinh Văn V, Mai Văn L2, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Quang V1, Trịnh Minh P, Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10 đuổi theo dùng tay và chân đánh vào cơ thể của Hoàng Chí K (Không đánh vào vùng đầu). Nguyễn Khánh N1h Nhật nhặt một tấm gỗ trên đường đánh một cái vào lưng của Hoàng Chí K sau đó vứt xuống sông rồi tất cả bỏ đi.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 185/KLTTCT-TTPY ngày 28/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Chí K tại thời điểm giám định là 45%.

Cáo trạng số: 26/CT-VKSĐKR ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố các bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Kế A, Nguyễn Khánh N1, Mai Văn L2, Nguyễn Quang V1, Lê Xuân BTrịnh Minh P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Kế A, Nguyễn Khánh N1, Mai Văn L2, Nguyễn Quang V1, Lê Xuân BTrịnh Minh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn V từ 39 đến 42 tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến ngày 09/11/2023.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T10 từ 30 đến 35 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Kế A từ 36 đến 39 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án,

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh N1 từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án,

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn L2 từ 32 đến 36 tháng tù .Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án,

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân B từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 36; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V1 từ 21 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 36; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Minh P từ 19 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí : Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với tội danh cáo trạng đã truy tố, các điều luật mà Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông đã đề nghị. Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn V đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 đến 03 năm 06 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo bị cáo Nguyễn Quang V1 đề nghị xử phạt từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh N1, và bị cáo Trịnh Minh P đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm rõ một số vấn đề về thương tích do bị cáo Nguyễn Khánh N1 gây ra và vai trò đồng phạm của bị cáo Trịnh Minh P.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khánh N1, bị cáo Nguyễn Quang V1 và bị cáo Trịnh Minh P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Khoảng 21 giờ ngày 02/6/2023, tại khu vực Cầu T nơi tiếp giáp giữa hai xã T và xã B, huyện Đ. Đinh Văn V, Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10, Mai Văn L2, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Quang V1, Lê Xuân B đang ngồi chơi với nhau, thấy nhóm của Hoàng Chí K đang ngồi chơi cách đó khoảng 15m-20m; Đinh Văn V vô cớ nảy sinh ý định đánh dằn mặt nên nói với Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10 “Đi kiếm cho tau cái đùi”. Khi Nguyễn Kế A chở Nguyễn Văn T10 đi lấy về được 03 thanh gỗ mỗi thanh dài khoảng 40-60cm để trước mặt Đinh Văn V. Đinh Văn V lấy 01 trong 03 thanh gỗ, qua chỗ nhóm Hoàng Chí K đánh trúng vào đầu và vai phải anh Hoàng Chí K. Nguyễn Văn T10, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Kế A, Lê Xuân B, Mai Văn L2, Nguyễn Quang V1 sang nhóm của Hoàng Chí K cũng xông vào dùng tay, chân đấm, đá vào người của Hoàng Chí K; Trịnh Minh P đang điều khiển xe máy đi ngang qua thấy vậy những bị cáo khác đang đánh nên cũng dừng lại tham gia vào đánh vào người Hoàng Chí K; sau đó tất cả bỏ đi. Do Nguyễn Khánh N1 nói quên dép, nên nhóm của Đinh Văn V điều khiển xe quay lại Cầu T (Riêng Lê Xuân B không quay lại). Thấy vậy, nhóm của Hoàng Chí K bỏ chạy hướng xã T thì bị Đinh Văn V, Mai Văn L2, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Quang V1, Trịnh Minh P, Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10 đuổi theo dùng tay và chân đánh vào cơ thể của Hoàng Chí K rồi bỏ đi.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 185/KLTTCT-TTPY ngày 28/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận:

Nắp sọ vùng đỉnh phải do phẫu thuật, đường kính #7cm, đáy chắc. Gãy lún xương đỉnh phải; dập não, xuất huyết đỉnh phải không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh; Tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh phải còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh. Điện não đồ bình thường; Sẹo phẫu thuật vùng đỉnh thái dương phải; bảy ( 07 )vết tổn thương da vùng chân trái, bàn chân phải.

-Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Chí K, tại thời điểm giám định là 45% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Trong đó:

Nắp sọ vùng đỉnh phải do phẫu thuật, đường kính #7cm, đáy chắc, áp dụng tại chương 1, mục I, khoản 5.2 = 26%

Dập não, xuất huyết đỉnh phải không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh, áp dụng tại chương 1, mục III.1 phải mổ phần ghi chú = 11%

Tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh phải còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh, áp dụng tại chương 1, mục III khoản 6 = 11%

Sẹo phẫu thuật vùng đỉnh thái dương phải, áp dụng tại chương 8, mục I, khoản 2 = 2%

Bảy( 07)vết tổn thương da vùng chân trái, bàn chân phải, mỗi vết được áp dụng tại chương 8, mục V = 0,5%

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư ( cộng lùi) =44,53% lấy tròn số 45%

-Cơ chế hình thành tổn thương: Tổn thương vùng đầu; Các tổn thương da ở vùng chân hai bên bờ mép nham nhỡ, kèm nhiều vết sây sát da để lại vết biến đổi sắc tố da phù hợp với tổn thương cơ bản của vật tày tác động.

Quá trình tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên Tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai nhận của bị hại, người làm chứng và tài liệu chứng cứ thu thập được khẳng định hành vi của các bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10, Mai Văn L2, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Quang V1, Lê Xuân B, Trịnh Minh P cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh N1, Trịnh Minh P là không có cơ sở, không được chấp nhận; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố các bị cáo theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết dẫn chiếu tại quy định điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

[3] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an trên địa bàn. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm nhưng vẫn vi phạm thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm các bị cáo nhằm có tác dụng răn đe các bị cáo và giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Đinh Văn V là người xúi dục các bị cáo Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10; Bị cáo Nguyễn Văn T10 khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên Đinh Văn V phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “ Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhận thức được sai lầm của mình các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo đã kịp thời thăm hỏi, động viên và tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại nên đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Mai Văn L2; bị cáo Mai Văn L2 có bố là ông Mai Văn S1 hiện bị bệnh hiểm nghèo đang điều trị tại bệnh viện cần có người chăm sóc, mẹ thường xuyên đau ốm, bị cáo là con duy nhất, là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo Đinh Văn V, Mai Văn L2 cứu người bị nạn đuối nước được chính quyền địa phương xác nhận các bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vai trò đồng phạm và hình phạt:

Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Đinh Văn V là người khởi xướng, xúi dục Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10 đi lấy gậy gỗ đồng thời là thực hiện hành vi một cách tích cực nhất; là người dùng gậy gỗ đánh vào đầu, vai và vào người của Hoàng Chí K. Trực tiếp gây ra thương tích tại vùng đầu của Hoàng Chí K (chiếm phần lớn và là tỷ lệ thương tích chủ yếu ). Bị cáo Đinh Văn V có vai trò cao nhất trong vụ án, cần xử phạt nghiêm, xử phạt tù mới có tác dụng ăn đe bị cáo và giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cần căn cứ vào tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để lên một mức án phù hợp với tính chất, mức đội hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi nghe Đinh Văn V nói đi lấy gậy gỗ; bị cáo Nguyễn Kế A, bị cáo Nguyễn Văn T10 biết rõ Đinh Văn V nói các bị cáo đi lấy gậy gỗ về với mục đích để đánh nhau; bị cáo Nguyễn Kế A vẫn cùng Nguyễn Văn T10 đi tìm và lấy gậy gỗ để cho Đinh Văn V sử dụng đánh Hoàng Chí K; nên cả hai bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức tạo điều kiện vật chất và tinh thần để bị cáo Đinh Văn V thực hiện hành vi tội phạm đồng thời cả 02 bị cáo đều là người cùng đi và xông vào dùng chân, tay đánh vào người Hoàng Chí K, vì vậy cần xử phạt nghiêm, xử phạt tù các bị cáo nhằm răn đe các bị cáo. Tuy nhiên, cần xem xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt ( Căn cứ khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự) và lên một mức án phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

Các bị cáo Mai Văn L2, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Quang V1, Lê Xuân B biết rõ, đồng nhất ý chí với Đinh Văn V và cùng đi sang nhóm của Hoàng Chí K, giúp sức về tinh thần khi bị cáo Đinh Văn V dùng gậy gỗ làm hung khí đánh vào đầu Hoàng Chí K gây ra thương tích vùng đầu với tỷ lệ tổn thương chủ yếu của Hoàng Chí K. Đồng thời các bị cáo cũng là những người trực tiếp dùng tay, chân đánh vào người Hoàng Chí K gây thương tích. Các bị áo đều phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ hậu quả mà các bị cáo gây ra.Tuy nhiên vai trò đồng phạm của các bị cáo là thứ yếu; Khi phạm tội các bị cáo Nguyễn Văn T10, Nguyễn Khánh N1, Lê Xuân B chưa đủ 18 tuổi nên khi lượng hình cần áp dụng khoản 1 Điều 54, Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1,2 Điều 101 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, cho các bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm tạo điều kiện giúp các bị cáo sữa chữa sai lầm, sớm cải tạo thành người có ích cho xã hội. Bị cáo Nguyễn Quang V1Trịnh Minh P hiện đang đi học, quá trình học tập tại nhà trường luôn chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường, đại diện nhà trường cũng có nguyện vọng mong Tòa tạo điều kiện cho các bị cáo được có cơ hội tiếp tục học tập, rèn luyện. Xét thấy bị cáo Nguyễn Quang V1Trịnh Minh P khi phạm tội đủ 14 tuổi dưới 16 tuổi, là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt vì vậy xử phạt bị cáo hình phạt Cải tạo không giam giữ cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội( Căn cứ Điều 36, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự)

Bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Kế An Nguyễn Văn T10, Mai Văn L2, Nguyễn Khánh N1, Lê Xuân B hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần tiếp tục thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo (Căn cứ Điều 123 của Bộ luật Tố tụng Hình sự).

Các bị cáo Nguyễn Quang V1, Trịnh Minh P hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị cáo đã đã thỏa thuận và bồi thường đầy đủ cho Hoàng Chí K số tiền 139.200.000 đồng (Trong đó Đinh Văn V bồi thường 21.250.000 đồng các bị cáo còn lại và Trịnh Minh P mỗi bị cáo bồi thường 16.850.000 đồng). Bị hại Hoàng Chí K không có yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Vấn đề khác: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 74AK-002.06 cho ông Nguyễn Kế Á; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDAWave Alpha biển kiểm soát 74K1-103.53 cho bà Nguyễn Thị T2; 01 Xe mô tô HONDA WAVE ALPHA gắn biển kiểm soát 74K1-107.55 cho ông Hoàng Văn C và các giấy tờ kèm theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, những người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn V ( tên gọi khác : T), Nguyễn Kế A, Nguyễn Văn T10, Mai Văn L2, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Quang V1, Lê Xuân BTrịnh Minh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, khoản 1 điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Văn V 42 ( bốn mươi hai) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến ngày 09/11/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự ;xử phạt bị cáo Nguyễn Kế A từ 36 ( ba mươi sáu) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến ngày 20/9/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T10 30 ( ba mươi) tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn L2 30 tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2023 đến ngày 03/10/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lê Xuân B 27( hai mươi bảy) tháng tù .Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh N1 24( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 36; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V1 24( hai mơi bốn) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đakrông nhận được quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo.

    Xử phạt bị cáo Trịnh Minh P 21( hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đakrông nhận được quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo

    G bị cáo Nguyễn Quang V1, Trịnh Minh P cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Quang V1, Trịnh Minh P thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Kế A, Mai Văn L2, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Khánh N1, Nguyễn Quang V1, Lê Xuân BTrịnh Minh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của các bị cáo chưa đủ 18 tuổi; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện kiểm sát, Công an huyện Đakrông;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đakrông;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tổ HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm về tội "cố ý gây thương tích"

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Cố ý gây thương tích"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn V cùng đồng phạm ' cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger