TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 17/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Trần Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Hồng
2. Ông Trần Hành
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 05/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10 tháng 10 năm 1991. Quê quán: xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lái xe. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng. Họ tên cha: Nguyễn Văn V; Sinh năm: 1958. Họ tên mẹ: Trần Thị T1; Sinh năm: 1959. Cả bố và mẹ đã nghỉ hưu và trú quán tại xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Phạm Thị Trường S; Sinh năm: 1995. Nghề nghiệp: Lao động tự do và trú quán tại khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Con: Có 03 đứa, đứa lớn sinh năm 2015, đứa nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai từ ngày 26/02/2024 cho đến nay(Có mặt).
* Người bị hại: Bà Mai Thị M; sinh năm 1974; trú tại: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Tử vong).
* Đại diện gia đình người bị hại: Ông Mai Văn Á; sinh năm 1965; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Thôn A, Đ, xã K, thị xã K(Có mặt).
* Người làm chứng:
- Ông: Nguyễn Văn V; sinh năm 1958; trú tại: Xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình(Vắng mặt).
- Ông: Nguyễn Thành L; sinh năm 1975; trú tại: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt).
- Chị: Nguyễn Thị N; sinh năm 1986; trú tại: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt).
- Chị: Phạm Thị Trường S; sinh năm 1966; nơi cư trú Phường L, thành phố B tỉnh Đồng Nai(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/02/2024, Nguyễn Văn T (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe ô tô BKS: 60K-382.77 chạy trên đường tránh Quốc lộ I theo hướng từ N ra B đi đến Km 584+100, đường tránh Quốc lộ I, thuộc tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì có chị Mai Thị M đang đi bộ cùng chiều phía trước. Do thiếu chú ý quan sát và không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi đi qua đường giao nhau (có biển cảnh báo nguy hiểm) và bị chói đèn xe ô tô ngược chiều tầm nhìn bị hạn chế, nên xe ô tô BKS: 60K-382.77 do Nguyễn Văn T điều khiển đã đâm vào chị Mai Thị M đi bộ cùng chiều phía trước trên làn đường xe cơ giới phía bên phải (tính theo hướng từ N ra B). Hậu quả vụ tai nạn làm chị Mai Thị M bị tử vong tại chỗ.
Với hành vi trên, Cáo trạng số 46/CT – VKS- TXKA ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa; Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và nhất trí với quyết định truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” và căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 260; Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Bộ luật Hình sự, Khoản 1, Điều 106, Bộ luật tố tụng Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 - 36 tháng; về hình phạt bổ sung: Cấm công việc lái xe ô tô đối với bị cáo Nguyễn Văn T thời hạn là 15 đến 18 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về biện pháp tư pháp: Tạm giữ theo hồ sơ 01(Một) Giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng FC, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 14/4/2021 (có giá trị đến ngày 14/4/2026) để đảm bảo công tác thi hành án và được trả lại khi hết thời gian cấm công việc lái xe ô tô. Về trách nhiệm Dân sự, vật chứng: Không.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, điều tra viên, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, đại diện người bị hại, người làm chứng không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của đại diện cho bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định dấu vết cơ học, biên bản khám phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 10/02/2024, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng FC, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 14/4/2021 (có giá trị đến ngày 14/4/2026) điều khiển xe ô tô BKS: 60K-382.77 (loại xe 07 chỗ ngồi) chạy trên đường tránh Quốc lộ I, từ huyện L, tỉnh Quảng Bình đi ra huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 18 giờ 33 phút cùng ngày, xe ô tô BKS: 60K-382.77 do Nguyễn Văn T điều khiển đi đến Km 584+100, đường tránh Quốc lộ I, gần ngã tư giao nhau giữa đường tránh Quốc lộ I và đường đi vào khu dân cư tổ dân phố H (có biển cảnh báo nguy hiểm), thuộc tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì có xe ô tô tải (không rõ biển kiểm soát) đang chạy ngược chiều phía trước, trên làn xe cơ giới bên trái bật đèn pha (đèn chiếu xa). Mặc dù, có biển cảnh báo nguy hiểm (biển báo giao nhau với đường không ưu tiên) và bị chói đèn xe ô tô tải ngược chiều dẫn đến tầm nhìn bị hạn chế, nhưng Nguyễn Văn T không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn. Do bị chói đèn xe ngược chiều nên Nguyễn Văn T không phát hiện chị Mai Thị M đang đi bộ cùng chiều phía trước, trên làn đường xe cơ giới bên phải (tính theo hướng nam bắc) và do không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi đi đến đường giao nhau, nên xe ô tô BKS: 60K-382.77 do Nguyễn Văn T điều khiển đã đâm vào phía sau chị Mai Thị M, làm chị Mai Thị M bị hất lên nắp capo rồi ngã xuống đường trên làn đường xe cơ giới bên phải. Điểm va chạm giữa xe ô tô BKS: 60K-382.77 do Nguyễn Văn T điều khiển với người đi bộ là chị Mai Thị M nằm trên làn đường xe cơ giới bên phải (theo hướng từ N ra B). Hậu quả vụ tai nạn là chị Mai Thị M bị tử vong tại chỗ. Sau khi tai nạn xẩy ra Nguyễn Văn T đã đến Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh trình báo vụ tai nạn.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan điều tra Công an thị xã K lập hồi 19 giờ 20 phút, ngày 10/02/2024 phản ánh: Vụ tai nạn xảy ra tại Km 584+100, đường tránh Quốc lộ I, thuộc tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Mặt đường rải nhựa bằng phẳng, được kẻ vạch phân cách thành 04 làn đường; 02 làn xe thô sơ mỗi làn rộng 02m; 02 làn xe cơ giới mỗi làn rộng 3,5m. Hiện trường còn nguyên vẹn, riêng xe ô tô BKS: 60K-382.77 liên quan đến tai nạn lái xe đã chạy về Công an thị xã K để trình báo. Các dấu vết để lại hiện trường như sau: (tính theo hướng từ N ra B)
Cách cột mốc Km 584+100 bên trái đường tránh Quốc lộ I về phía bắc 7,5m có một vết phanh của xe ô tô BKS: 60K-382.77 để lại trên làn đường xe cơ giới bên phải, vết phanh có hướng từ nam ra bắc; điểm đầu vết phanh cách mép đường nhựa bên phải 03m và cách biển báo giao nhau với đường không ưu tiên ở bên phải đường tránh Quốc lộ I là 12,5m; điểm cuối vết phanh cách mép đường nhựa bên phải 2,6m. Cách điểm đầu vết phanh 0,15m về phía bắc là vết máu loang lỗ, đứt quảng, kéo dài đến vị trí tử thi. Cách điểm đầu vết máu 30,2m về phía bắc là nạn nhân Mai Thị M nằm úp trên mặt đường xe cơ giới bên phải, đầu hướng ra B, chân hướng vào N; đầu nạn nhân cách mép đường nhựa bên phải 2,6m, chân nạn nhân cách mép đường nhựa bên phải 2,6m. Cách gót chân nạn nhân 09m về phía nam là vùng mảnh vỡ nhựa không rõ hình, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường nhựa bên phải 1,2m.
* Biên bản khám nghiệm xe ô tô BKS: 60K-382.77 liên quan đến tai nạn phản ánh: Mặt ngoài phía trước nắp capo bị móp lõm bong tróc sơn, kích thước (21x12)cm; tâm vết móp lõm cách mặt đất 114cm và cách mép bên trái đầu xe ô tô 78cm. Phần bên trái của lưới tản nhiệt bị gãy vỡ, kích thước (63x29cm), chiều hướng từ trước ra sau, tâm vết gãy vỡ cách mặt đất 93cm và cách mép bên trái đầu xe 59cm. Phần bên trái ba đờ sốc phía trước bị gãy vỡ, kích thước (25x10)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm vết gãy vỡ cách mặt đất 73cm và cách mép bên trái đầu xe 65cm. Ốc vít bên phải của biểm kiểm soát bị bung rời, phần bên trái của biển kiểm soát bị cong vênh, kích thước (25x12cm). Ốp nhựa bảo vệ cảm biến phía trước bị bung rời các chốt định vị, góc bên trái bị gãy vỡ, kích thước (10x6)cm, tâm vết gãy vỡ cách mặt đất 58cm và cách thành bên trái của xe ô tô 83cm. Lọc gió phía trước bị xô lệch, chiều hướng từ trước ra sau, mặt ngoài bị móp, trầy xước, kích thước (38x50)cm; tâm vết móp cách mặt đất 83cm và cách thành xe bên trái 83cm. Chắn bùn bánh trước bên phải xe có bám dính chất màu nâu, kích thước.
* Tại bản kết luận giám định dấu vết cơ học số 405/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Hai mảnh vỡ nhựa thu giữ tại hiện trường được gãy vỡ ra từ xe ô tô BKS: 60K-382.77, trong đó: mảnh vỡ nhựa màu đen, không rõ hình dạng, kích thước (16x12)cm, mặt ngoài bám dính chất màu nâu đỏ được gãy vỡ ra từ lưới tản nhiệt của xe ô tô BKS: 60K-382.77; mảnh vỡ nhựa màu đen, không rõ hình dạng, kích thước (10x6)cm, mặt ngoài bám dính chất màu nâu đỏ được gãy vỡ ra từ ốp nhựa bảo vệ cảm biến phía trước (vị trí phía dưới biển kiểm soát) của xe ô tô BKS: 60K-382.77.
* Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y số 413/KL-KTHS, ngày 21/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân là chị Mai Thị M, sinh năm 1972, trú tại thôn A Đ, xã K, thị xã K, tỉnh hà Tĩnh; các dấu vết để lại như sau: Vùng đầu mặt, cổ dập nát, biến dạng, xương hộp sọ bị vỡ, máu và tổ chức não trào ra ngoài; Lồng ngực biến dạng, gãy sập khung xương sườn hai bên; Xương đùi trái bị gãy; Gãy 1/3 dưới hai xương cẳng chân trái; Từ đùi xuống đến bàn chân phải xây xát da trên diện rộng. Nguyên nhân nạn nhân chết là do đa chấn thương.
Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm Khoản 1, Điều 9, Luật Giao thông đường bộ và Khoản 1, Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Khoản 1, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.
Khoản 1, Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp sau: 1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...; 2...Tầm nhìn bị hạn chế”
Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh đưa xét xử bị cáo với tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không có gì oan sai.
[3]. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội. Lỗi trong vụ án này là lỗi vô ý. Nguyên nhân của vụ tai nạn là do lỗi hỗn hợp, trong đó lỗi chính thuộc về bị cáo Nguyễn Văn T, điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi có biển cảnh báo nguy hiểm và tầm nhìn bị hạn chế; bị hại bà Mai Thị M cũng có lỗi khi đi bộ sang đường không chú ý quan sát.
[4]. Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T không vi phạm tình tiết định khung nên chỉ bị xét xử tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự:
[5]. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyên bồi thường thiệt hại; đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có bố đẻ là thương binh tham gia nhiệm vụ quốc tế được nhà nược tăng thưởng Huân chương quốc tế hạng ba; một phần do lỗi của bị hại. Những tình tiết giảm nhẹ trên được qui định tại Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị Xã Kỳ Anh là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy; Bị cáo Nguyễn Văn Thành, bản thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; phạm tội do lỗi vô ý; có nhân thân tốt; luôn chấp hành đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; có 02 tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Một phần lỗi là do bị hại khi đi qua đường không chú ý quan sát. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nghĩ cần tạo cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa sai lầm, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; và phù hợp với Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn. Nên cần căn cứ Điều 65 - Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo và xử bị cáo mức án khởi điểm như đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm.
[7]. Về trách nhiệm Dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thỏa thuận, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, do ông Mai Văn Á (anh trai ruột của bị hại Mai Thị M) làm đại diện, với số tiền 50.000.0000đ. Nay đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8]. Về vật chứng thu giữ và xử lý: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 xe ô tô con hiệu Ford Everest, màu sơn trắng, BKS: 60K-382.77, số máy: P0WSRPU72888, số khung: MNCRXXMAWRPU72888 và các giấy tờ xe gồm: 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô BKS: 60K-382.77, số AD23/ 0280480, do Tổng công ty Cổ phần B cấp ngày 19/12/2023, có giá trị từ ngày 19/12/2023 đến 19/12/2024; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô BKS: 60K-382.77, số 23121844051, do Công ty B1 cấp ngày 18/12/2023, có giá trị thời hạn bảo hiểm từ ngày 18/12/2023 đến 18/12/2024; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: DB 0590941 của xe ô tô BKS: 60K-382.77, do Trung tâm Đ cấp ngày 21/12/2023, có giá trị đến ngày 20/12/2026; 01 giấy biên nhận thế chấp, tài sản thế chấp là xe ô tô BKS: 60K-382.77, do ngân hàng TMCP T2 cấp ngày 26/12/2023, có giá trị đến ngày 26/3/2024. Các vật chứng nêu trên đã trả lại cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[9]. Hình phạt bổ sung: Cấm công việc lái xe ô tô đối với bị cáo Nguyễn Văn T thời hạn là 16(Mười sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[10]. Về biện pháp tư pháp: Tạm giữ theo hồ sơ 01(Một) Giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng FC, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 14/4/2021 (có giá trị đến ngày 14/4/2026) mang tên Nguyễn Văn T để đảm bảo công tác thi hành án và được trả lại khi hết thời gian cấm công việc lái xe ô tô.
[11]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, đại diện gia đình người bị hại, có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 260; Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điểm a Khoản 3 Điều 106, Bộ luật tố tụng Hình sự. Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q, tuyên xử;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo; Nguyễn Văn T phạm tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt, Nguyễn Văn T 16(Mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân phường L, Thành Phố B, tỉnh Đồng Nai, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án Hình sự 02(Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm Dân sự, vật chứng: Không
- Hình phạt bổ sung: Cấm công việc lái xe ô tô đối với bị cáo Nguyễn Văn T thời hạn là 16(Mười sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về biện pháp tư pháp: Tạm giữ theo hồ sơ 01(Một) Giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng FC, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 14/4/2021 (có giá trị đến ngày 14/4/2026) mang tên Nguyễn Văn T để đảm bảo công tác thi hành án và được trả lại khi hết thời gian cấm công việc lái xe ô tô.
- Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, đại diện gia đình bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hương |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 45
