TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 06/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu và bà Hoàng Thị Len
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Xuân H, sinh ngày 01/11/1981. Tên gọi khác: không.
Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân K (đã chết) - Là thương binh hạng 2/4, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và bà Nguyễn Thị Q. Có vợ là chị Phạm Thị V, sinh năm 1988 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Bị cáo được trích xuất, có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1948 ( vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1958 (có mặt)
- Cháu Nguyễn Phan Huyền T1, sinh năm 2009 (có mặt)
- Chị Phan Thị V1, sinh năm 1988 (mẹ đẻ cháu T1) (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1989 (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 1987 (có mặt)
- Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1965 (có mặt)
- Ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1968 (có mặt)
Đều trú tại: Thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986 ( vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1948 là chị gái của các ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1959; Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1965; Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1968, cùng trú tại thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình. Do ông B là con trai trưởng nên những năm trước ông B tổ chức giỗ bố thì bà Q và con trai bà Q là Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981 (ở cùng nhà với bà Q) đều đến ăn giỗ tại nhà ông B. Ngày 13/8/2023, ông B làm giỗ bố nhưng ông T3 cũng làm giỗ bố tại nhà mình và mời bà Q cùng H đến ăn giỗ. Bà Q và H đến nhà ông T3 ăn giỗ, sau khi ăn giỗ xong, bà Q và H đi về nhà. Khoảng 13 giờ cùng ngày, do bực tức về việc bà Q không đến nhà mình thắp hương cho bố và cũng không có ý kiến gì về việc tổ chức giỗ bố nên ông B đi bộ sang nhà bà Q cách nhà ông khoảng 200m, đứng ở cổng chửi bà Q về việc bà không có trách nhiệm giỗ bố; chửi bà Q và H còn nợ tiền thuê ông đào gốc hòe chưa trả; gọi bà Q là con chó già. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1958 và anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986 (là vợ và con trai của ông B) đã đến can ngăn, kéo ông B về. Thời điểm này H đang ngủ trong nhà nên không biết sự việc. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H ngủ dậy thì bà Q kể lại việc ông B sang nhà chửi bà. Nghe xong, H bảo cháu Nguyễn Phan Huyền T1, sinh năm 2009 (là con gái H) đến nhà ông B bảo ông B sang gặp H để nói chuyện. Cháu T1 đến nhà ông B chuyển lời của H thì ông B bảo cháu T1 về bảo H sang, cháu T1 về nói lại với H nên H đi bộ đến cổng nhà ông B, gọi ông B ra ngoài nói chuyện. Ông B đi ra thì H bảo “Cậu và mẹ cháu là chị em, lớn tuổi cả rồi, lựa lời mà nói cho con cháu còn tôn trọng”. Ông B chửi H thì H bảo “Ông làm vậy không xứng để cháu tôn trọng” rồi đi về. Khi H đi được vài bước thì ông B đi theo sau, dùng tay đấm H hai phát liên tiếp, trong đó 01 phát trúng vào bả vai trái. H quay lại đấm liên tiếp 02 phát vào vùng má trái và bả vai trái của ông B rồi đi về. Ông B quay vào nhà lấy 01 con dao kim loại dài khoảng 60cm, mũi nhọn để ở dưới chiếu trên giường ngủ đi sang nhà bà Q, đứng ở cổng chửi bà Q và H, sau đó mở then cổng đi vào trong sân. Thấy ông B cầm dao, bà Q đi lùi về phía cửa bếp, lúc này H đang ngồi hàn xì ở sân cũng đứng dậy cầm theo 01 thanh kim loại đang hàn, chị Phan Thị V1, sinh năm 1988 (là vợ H) chạy ra ôm, kéo H về phía bếp làm thanh kim loại bị rơi xuống sân, H nói “mày ôm thế này để ông ấy giết chết tao à” và đẩy chị V1 ra. Lúc này bà T vợ ông B cũng chạy đến kéo ông B lại nhưng ông B vùng ra tiếp tục cầm dao ở tay phải tiến về phía H, vừa đi vừa chửi. H đi vào bếp lấy 01 thanh kim loại dài (96 x 4 x 2)cm dạng hình hộp chữ nhật rỗng rồi quay ra cửa thì gặp ông B đi đến đối diện, cách H khoảng 01 mét. Ông B đứng dưới sân trước cửa bếp, tay cầm dao dơ lên ngang mặt, H cầm thanh kim loại ở tay phải giơ lên cao vụt ông B liên tiếp 03 nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, trong đó 01 nhát trúng vào vùng trán bên trái, 01 nhát trúng vào thái dương trái và 01 nhát trúng vào gò má trái, mắt trái làm ông B gục xuống sân. Ông B được đưa đến Trạm y tế xã H, khâu vết thương sau chuyển cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T và Bệnh viện V2 - Hà Nội mổ cấp cứu. Ngày 18/8/2023 ông B được chuyển về Bệnh viện Đa khoa tỉnh T để tiếp tục theo dõi và điều trị, ngày 28/8/2023 ra viện.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 423/KLTTCT-TTPY ngày 11/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T của Trung tâm P - Sở Y tế tỉnh T, kết luận: Vùng trán đỉnh thái dương trái, đỉnh lệch có vết sẹo; Máu tụ ngoài màng cứng đã phẫu thuật không còn trên chẩn đoán hình ảnh; Nhu mô thùy trán trái có các ổ tụ máu nhỏ không còn trên chẩn đoán hình ảnh; Ô khuyết xương đỉnh trái đã được vá bằng vật liệu nhân tạo đáy chắc; Gãy xương cung tiếp gò má trái; Gãy xương thành ngoài ổ mắt trái. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với ông Nguyễn Hữu B tại thời điểm giám định là: 46% (Bốn mươi sáu phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tầy cứng gây nên.
Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSTB ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H tội “Giết người”. Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H mức án từ 5 đến 6 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra giải quyết. Về vật chứng đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 thanh kim loại dài (96 x 4 x 2)cm dạng hình hộp chữ nhật rỗng. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Xuân H không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đã bồi thường cho bị hại. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo và tiến hành các thủ tục tố tụng khác trong vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân H; Biên bản làm việc với Trạm y tế xã H; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu của ông B do Bệnh viện Đa khoa tỉnh T; Bệnh án của ông B tại Bệnh viện V2 - Hà Nội; Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 423/KLTTCT-TTPY ngày 11/10/2023 của Trung tâm P - Sở Y tế tỉnh T; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Bản Kết luận giám định số 1443/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T; 01 đoạn video thu tại camera an ninh nhà ông Nguyễn Hữu T3 được lưu trong thẻ nhớ; Bản Kết luận giám định số 1475/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Lời khai bị hại là ông Nguyễn Hữu B; Lời khai của những người làm chứng có mặt tại hiện trường chứng kiến sự việc, gồm: bà Nguyễn Thị Q, bà Đỗ Thị T, chị Phan Thị V1, cháu Nguyễn Phan Huyền T1; Lời khai của những người làm chứng khác, gồm: chị Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1989, chị Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 1987 cùng trú tại thôn P, xã H, huyện V; anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986 trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; ông Nguyễn Hữu T2, ông Nguyễn Hữu T3 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 13/8/2023, tại khu vực cổng nhà ông Nguyễn Hữu B ở thôn P, xã H, huyện V, do bị ông B chửi và dùng tay đấm vào vai của Nguyễn Xuân H nên H đã dùng tay đấm 02 phát vào vùng má trái và bả vai trái của ông B rồi đi về. Đến 14 giờ 15 phút ngày, ông B mang theo 01 con dao dài khoảng 60cm đến nhà để đánh H. Tại khu vực sân trước cửa bếp nhà H, H đã dùng 01 thanh kim loại dài (96 x 4 x 2)cm dạng hình hộp chữ nhật rỗng, đứng đối diện vụt liên tiếp 03 nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào vùng trán bên trái, thái dương trái và gò má trái, mắt trái của ông B. Hậu quả: ông B bị tụ máu khí ngoài màng cứng trán đỉnh trái, tụ máu nhu mô thuỳ trán trái; vỡ lún xương trán đỉnh trái lan vào trai xương thái dương, thành ngoài ổ mắt trái; vỡ cung tiếp gò mái trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 46%. Ông B được mổ cấp cứu kịp thời, không nguy hiểm đến tính mạng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Điều 123. Tội giết người
“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
- Giết 02 người trở lên;
- Giết người dưới 16 tuổi;
- Giết phụ nữ mà biết là có thai;
- Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
- Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
- Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
- Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
- Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
- Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
- Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
- Thuê giết người hoặc giết người thuê;
- Có tính chất côn đồ;
- Có tổ chức;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
”
[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác, quyền sống của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã đã dùng 01 thanh kim loại dài (96 x 4 x 2)cm dạng hình hộp chữ nhật rỗng, đứng đối diện vụt liên tiếp 03 nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào vùng trán bên trái, thái dương trái và gò má trái, mắt trái của ông B. Đây là những vùng trọng yếu của cơ thể, hành vi của bị cáo có thể gây chết người. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo sợ đối với quần chúng nhân dân nơi xảy ra sự việc. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo và gia đình tự nguyện bồi thường tổng số tiền 120 triệu đồng theo yêu cầu của bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51. Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân xảy ra vụ án xuất phát từ việc bị hại cầm dao sang nhà bị cáo, đuổi đánh bị cáo nên cần thiết cho bị cáo được tình tiết giảm nhẹ “ phạm tội do tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là con thương binh; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị hại không chết do khách quan nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt theo quy định tại Điều 57, 102 Bộ luật hình sự
Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử cho bị cáo H được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1, 3 Điều 54 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho ông Nguyễn Hữu B số tiền 120.000.000 đồng, ông B không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác. Đây là sự tự nguyện của bị cáo và bị hại, không trái quy định pháp luật, cần ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 thanh kim loại dài (96 x 4 x 2)cm dạng hình hộp chữ nhật rỗng là công vụ gây án, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 thẻ nhớ dữ liệu camera được chuyển theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục quản lý theo hồ sơ vụ án.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Giết người”
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 điều 123; các điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 50; Điều 54; Điều 57; Điều 38; Điều 102 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 04 (bốn ) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Nguyễn Xuân H với bị hại Nguyễn Hữu B, bị cáo đã bồi thường xong số tiền 120.000.000 đồng ( Một trăm hai mươi triệu đồng chẵn).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài (96 x 4 x 2)cm dạng hình hộp chữ nhật rỗng có đặc điểm đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 09/5/2024. Tiếp tục quản lý theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ dữ liệu camera thu tại camera an ninh nhà ông Nguyễn Hữu T3 ngày 13/8/2023.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Luân |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (giết người)
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân H
