Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số:45/2024/HS-ST

Ngày 16-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị Liên - Giáo viên nghỉ hưu phường Hoà Mạc.
  2. Ông Nguyễn Minh T3 - Cán bộ hưu phường Hoà Mạc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với:

- Bị cáo Ngô Văn T, sinh năm 1973, tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Ngô Văn N (đã chết) và bà Trương Thị C (đã chết); vợ: Lê Thị T (đã ly hôn), con nuôi: có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến ngày 31/01/2024 chuyển sang Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.

- Bị hại: Anh Phan Thành T1, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Cháu Ngô Hồng T2, sinh ngày 10/11/2009; nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Thôn L, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; đều vắng mặt.
  • + Chị Lê Thị T3, sinh năm 1972, nơi cư trú: Thôn L, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, anh Phan Thành T1 ở thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam đến nhà Ngô Văn T trú tại tổ dân phố T, phường B, thị xã D chơi. Sau đó, anh T1 đèo T đến một quán ăn ở chân cầu N, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam ngồi ăn với bạn bè đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì anh T1 chở T đi cùng mọi người về nhà T uống nước đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày thì đi về. Lúc này, anh T1 có bảo con trai nuôi của T là cháu Ngô Hồng T2 đi mua rượu và đồ nhậu về để uống tiếp. Trong lúc ăn, anh T1 có rút trong ví của mình ra số tiền 7.900.000 đồng (trong đó có các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và mệnh giá 200.000 đồng) và đếm. Cháu T2 nói với anh T1: “Chú mua cho cháu cái máy điện thoại với”, T cũng nói với anh T1: “Chú mua cho anh cái máy cục gạch nữa, máy anh hỏng rồi” thì anh T1 nói: “Để mai dẫn đi Quế mua”. Sau đó cả ba ăn uống đến khoảng 00 giờ ngày 23/01/2024 thì lên giường đi ngủ, khi đi ngủ thì anh T1 nằm trong sát tường, T2 nằm giữa còn T nằm ngoài cùng. Khoảng 15 phút sau thì T2 có dậy đi vệ sinh thì T vào nằm giữa còn cháu T2 nằm ngoài cùng. Do trước đó anh T1 đã vay của T mấy trăm nghìn nhưng vẫn chưa trả đến hôm nay nhìn thấy anh T1 cầm nhiều tờ tiền ra đếm trước mặt nên T nảy sinh ý định lấy trộm tiền của anh T1. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 23/01/2024, T dùng tay phải kéo khóa túi quần đằng trước bên phải của anh T1 xuống rồi dùng 02 ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) kéo chiếc ví từ túi quần của anh T1 ra. Khi lấy ví xong thì T cầm ví đi vào nhà vệ sinh và mở ví ra, rút 01 thẻ căn cước công dân và 01 thẻ ATM ngân hàng VietinBank đều mang tên Phan Thành T1 rồi để vào lỗ thông gió của nhà vệ sinh, sau đó T lấy số tiền 7.900.000 đồng trong ví và chia làm hai, T cầm 5.500.000 đồng bao gồm 11 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng cất giấu dưới đáy bình ga, còn lại số tiền 2.400.000 đồng bao gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng T mang lên gác xép và giấu vào hòm tôn đựng quần áo, sau đó khóa hòm lại. T đi vào giường nằm và để chiếc ví ở bên cạnh người của anh T1. Khi nằm được khoảng 5 phút thì T gọi cháu T2 rồi lên gác xép lấy 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và nói: “Bố cho con mấy trăm mua áo rét, đừng nói với chú T1 bố cho tiền không mai chú không mua điện thoại cho bố”. Đến 05 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, anh T1 dậy phát hiện mất tiền đã lên Cơ quan Công an trình báo sự việc trên.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, Ngô Văn T đã đến Công an phường B đầu thú và giao nộp số tiền 7.400.000đồng và 01 thẻ căn cước công dân, 01 thẻ ATM đều mang tên Phan Thành T1, sau đó Công an phường B đã chuyển Ngô Văn T và toàn bộ vật chứng cho Cơ quan Điều tra Công an thị xã Duy Tiên. Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Ngày 23/01/2024, chị Lê Thị T3 SN1972 trú tại thôn L, xã C, thị xã D là mẹ đẻ của cháu Ngô Hồng T2 đã giao nộp tờ tiền 500.000đồng mà T đã cho cháu T2.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Duy Tiên, kết luận: 01 căn cước công dân số “[...]” mang tên Phan Thành T1 và 01 thẻ ngân hàng VietinBank có các số “9704150144448589” mang tên Phan Thành T1 trị giá 0 đồng (Không đồng).

Về vật chứng, tài sản đã thu giữ trong vụ án: Ngày 20/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phan Thành T1 số tiền 7.900.000đồng và 01 thẻ căn cước công dân và 01 thẻ ATM của ngân hàng Vietinbank là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Phan Thành T1 không yêu cầu Ngô Văn T phải bồi thường về dân sự.

Cáo trạng số 32/CT-VKS- DT ngày 08/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Văn T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.

Trong phần tranh luận: Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ, không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Với mục đích chiếm đoạt tài sản, khoảng 02 giờ ngày 22/01/2024, tại nhà của mình ở tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Ngô Văn T lợi dụng khi anh Phan Thành T1 đang ngủ đã dùng tay lấy trong túi quần đằng trước bên phải 01 chiếc ví rồi lấy 01 thẻ căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietinbank đều có trị giá 0 đồng và số tiền 7.900.000 đồng của anh Phan Thành T1.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ những nhận định trên, xét bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế xét không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Đối với các hành vi khác: Đối với cháu Ngô Hồng T2 là người được Ngô Văn T cho số tiền 500.000 đồng là số tiền T trộm cắp của anh Phan Thành T1 mà có. Quá trình điều tra xác định cháu T2 không bàn bạc, không biết số tiền T cho là do phạm tội mà có. Do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duy Tiên không xem xét xử lý cháu T2 trong vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, nay không ai có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/4/2024).

    Giao bị cáo Ngô Văn T cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

  2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TX Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an TX Duy Tiên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tươi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGÔ VĂN THUỶ "TRỘM CẮP TÀI SẢN"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger