Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HSST

Ngày: 15 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Văn Cuộng
  2. Ông Trần Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43A/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Diễm P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không (khai tại phiên toà nghề nghiệp: sửa xe nhưng đã nghỉ); trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ầ và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ tên Lê Thị P1 (đã ly hôn) và có 03 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2012 (khai tại phiên toà có 04 người con); tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 52/2020/HS-ST ngày 07/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm tù về tội Huỷ hoại tài sản và 01 năm tù về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/10/2022, chưa được xóa án tích; tiền sự: không, nhân thân: tại quyết định số 459/QĐ-UBND ngày 03/3/2010 của Ủy ban nhân dân huyện C đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 20/02/2024 chuyển sang biện pháp tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Chí N, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2003 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không (khai tại phiên toà: làm hồ); trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Vũ P2 và bà Bùi Thanh T; có vợ tên Đoàn Thị Mỹ A, sinh năm: 2004 và có 02 người con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; tiền án: không; tiền sự: 02 tiền sự, cụ thể: ngày 03/10/2022, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền: 2.500.000 đồng, về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa chấp hành đóng phạt). Ngày 01/08/2023 bị Công an xã T, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền: 1.500.000 đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa chấp hành đóng phạt), bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 20/02/2024 chuyển sang biện pháp tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2002 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lý Thị O; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 20/02/2024 chuyển sang biện pháp tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Trần Giang M, sinh ngày 09/11/1990, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang – Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn T2, sinh ngày 02/11/2004, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

2. Võ Vũ B, sinh ngày 16/3/1995, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 15/02/2024, Võ Chí N điều khiển vỏ lãi chở anh ruột Võ Vũ B từ nhà N đến nhà Nguyễn Diễm P ở ấp T, xã T, huyện C để bắt gà bán dùm cho P, vì P có nhờ trước đó. Khi đến nhà P thì P hỏi B có tiền không hùn vô chơi “hàm ý là P hỏi B có tiền không hùn mua ma túy sử dụng”, B trả lời “không có tiền” rồi đi vào phòng khách nhà P để xem tivi. Sau đó, P kêu N đi mua dùm một bịch ma tuý đá thì N đồng ý, P đưa cho N 300.000 đồng (gồm 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng; 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng) và kêu N “lấy đồ về chơi”, hàm ý là kêu N đi mua ma túy về sử dụng. N nhận tiền từ P rồi điều khiển vỏ lãi chạy đến kênh Đ, thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang mua ma túy của Trần Giang M nhưng không gặp M. Lúc này, N đang đứng cặp lộ thì gặp Nguyễn Quốc T1 điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 95H1-678.07 chở Nguyễn Văn T2 phía sau thì N nói với T1 và T2 đi mua ma túy đến nhà P để sử dụng thì T1 đồng ý, T2 ngồi sau không nói gì. Lúc này, do máy chạy vỏ lãi bị chảy nhớt nên N điều khiển vỏ lãi chạy về nhà còn T1 thì điều khiển xe gắn máy chở T2 đi đến nhà N để sau đó chở 3 đi đến nhà P. Khi T1 đang điều khiển xe chạy ngang nhà của Trần Giang M thì N gặp M đang đứng ngoài lộ, N kêu T1 dừng xe lại để N xuống xe đi gặp M mua ma túy. T1 và T2 đậu xe ngoài lộ cách nhà M khoảng 30 mét, còn N đi bộ đến nhà M mua một bịch ma túy đá giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, T1 tiếp tục điều khiển xe chở N và T2 đến nhà của P để sử dụng ma túy; trên đường chạy xe đến nhà P, N nói “Nó đưa hai trăm sao cái này nhiều dữ bây” nhưng T1 và T2 không trả lời. Khi đến nhà P, N trực tiếp lấy bịch ma túy ra để sử dụng, N hỏi P “Có cái nồi không” thì P trả lời “Không có cái nồi”. Lúc này, B nhờ T1 chở về nhà dùm nên N đưa bịch ma túy cho T1 cất giữ. Khi lấy bịch ma túy từ Nguyên đưa thì T1 cầm lên xem và T1 xoắn lai quần bên trái cất giấu bịch ma túy vào. Sau đó, T1 và B ra xe định đi về, còn N thì đi vào nhà vệ sinh, khi N vừa vào nhà vệ sinh thì lực lượng Công an đến kiểm tra, N hoảng sợ nên trốn trong nhà vệ sinh không ra, lúc này P và T2 cũng chạy vào nhà vệ sinh để trốn. Khi lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra thì T1 ném một bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn (nghi là ma túy) xuống nền xi măng nơi T1 đứng. Lực lượng Công an kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tạm giữ các tang vật. Sau đó, P và N đến Công an xã T đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số 78/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,11147 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 34/CT-VKS-HCTA ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Công văn số 34/CT-VKS-HCTA ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố các bị cáo Nguyễn Diễm P, Võ Chí N, Nguyễn Quốc T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A trong phần luận tội đã giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo, phân tích cấu thành tội phạm, đánh giá tính chất, hành vi, mức độ nguy hiểm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Diễm P, Võ Chí N, Nguyễn Quốc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Diễm P, Võ Chí N, Nguyễn Quốc T1; đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Diễm P, Võ Chí Nguyên do đầu thú; riêng bị cáo P đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Diễm P mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.

Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Chí N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T1 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 78/2024 ngày 20/02/2024 có chữ ký của người chứng kiến Đặng Thị Phương L; có chữ ký của người niêm phong Huỳnh Nhật M1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh H.

Đề nghị trả lại 01 xe mô tô màu trắng, số khung MH1JM5116MK975901, số máy JM1E1975478, biển kiểm soát 95H1 – 678.07 đã qua sử dụng cho bị cáo Nguyễn Quốc T1.

Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất tội danh như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện được xem là hợp pháp.

[2] Xét về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt Nguyễn Văn T2, Võ Vũ B. Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố T2 và B không có tham gia, không có sự đồng thuận, không có giúp sức hay được các bị cáo khác hứa hẹn cho sử dụng ma tuý hay bất kỳ lợi ích vật chất gì, không liên quan gì đến việc Tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo khác nên Hội đồng xét xử xác định tư cách của Nguyễn Văn T2, Võ Vũ B là người làm chứng. Quá trình điều tra T2, B đã có cung cấp lời khai nội dung đã rõ ràng, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hành vi vi phạm và tội danh truy tố: tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Diễm P, Võ Chí N, Nguyễn Quốc T1 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng Võ Vũ B, Nguyễn Văn T2 và các tình tiết, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 15/02/2024, Võ Chí N điều khiển vỏ lãi chở anh ruột Võ Vũ B đến nhà của P để bắt gà đi bán dùm P. Tại đây Nguyễn Diễm P đưa cho N 300.000 đồng để mua ma túy về sử dụng, N điều khiển vỏ lãi đến kênh Đ, thuộc ấp T, xã T thì có gặp Nguyễn Quốc T1 điều khiển xe máy chở Nguyễn Văn T2, sau khi chạy về nhà N để N cất vỏ lãi thì T1 điều xe gắn máy mang biển kiểm soát 95H1-678.07 chở 03 người, trong lúc đang chạy thì N nhìn thấy Trần Giang M nên N kêu T1 dừng xe lại để N vào nhà M mua một bịch ma tuý giá 200.000 đồng, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,11147 gam, rồi chạy xe đến nhà P định sử dụng ma tuý nhưng do không có dụng cụ để sử dụng và B muốn về nhà không tham gia sử dụng ma tuý và nhờ T1 chở về, khi T1 và B đi ra nơi để xe định lấy xe thì lúc này N đưa bịch ma túy vừa mua cho T1 cất giữ. Khi lấy bịch ma túy từ bị cáo N đưa T1 cầm lên xem và T1 xoắn lai quần bên trái để cất giấu bịch ma túy thì lực lượng Công an đến kiểm tra T1 ném bịch ma túy xuống nền xi măng tại nơi T1 đang đứng thì bị bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Diễm P, Võ Chí N, Nguyễn Quốc T1 đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét vai trò đồng phạm: bị cáo P là người khởi xướng và kêu N đi mua ma tuý, là người bỏ tiền ra để mua ma tuý với mục đích để sử dụng; bị cáo N khi được P kêu thì đồng ý và tích cực trong việc đi tìm mua ma tuý, là người rủ T1 đi cùng; T1 là người tích cực dùng xe máy của mình chở N và T2, là người cất giữ ma tuý khi bị phát hiện và bắt người phạm tội quả tang. Như vậy, các bị cáo P, N, T1 cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên được xem là đồng phạm. Tuy nhiên, các bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ nên được xem là đồng phạm giản đơn.

[5] Xét vai trò của từng bị cáo: bị cáo P là người khởi xướng, người cung cấp tiền để mua ma tuý; bị cáo N là người tích cực trong việc đi mua ma tuý nên vai trò của P và N là ngang nhau; đối với bị cáo T1 khi được N rủ thì đồng ý và dùng xe máy của mình chở N, T2 đi đến nhà P và là người cất giữ ma tuý trước khi bị bắt, hành vi của T2 ít nguy hiểm hơn P và N.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo N, T1 không có tình tiết tăng nặng; bị cáo P có 01 tiền án chưa được xoá lại thực hiện tội phạm với lỗi cố ý nên lần phạm tội này bị cáo P phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay nhận thấy các bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo P, N khi sự việc bị phát hiện đã đến cơ quan Công an đầu thú thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Hiện nay ma túy là vấn nạn xã hội, là nguồn gốc làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và hơn hết là nó để lại nhiều hệ lụy cho xã hội, cho sức khỏe của con người, cho gia đình có người thân sa vào nghiện ngập nên cần phải xử lý nghiêm minh, có hình phạt thích đáng, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[9] Xét về xử lý vật chứng: mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định, Cơ quan giám định đã sử dụng hết cho công tác giám định không hoàn lại nên không xử lý. Đối với 01 phong bì niêm phong số 78/2024 ngày 20/02/2024 có chữ ký của người chứng kiến Đặng Thị Phương L; có chữ ký của người niêm phong Huỳnh Nhật M1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh H không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) xe mô tô màu trắng, số khung MH1JM5116MK975901, số máy JM1E1975478, biển kiểm soát 95H1 – 678.07 đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Quốc T1, không cất giấu, không liên quan đến hành vi tàng trữ ma tuý nên trả lại cho bị cáo.

[10] Đối với Võ Vũ B có đến nhà P định bắt gà bán dùm, khi P hỏi B có tiền không hùn vô chơi “hàm ý P hỏi B có tiền không hùn mua ma túy sử dụng”, B trả lời “không có tiền” rồi đi vào phòng khách nhà P để xem tivi, đến khi N mua ma tuý mang về nhà P thì B cũng không được P, N, T1 mời sử dụng ma tuý, không tham gia, không có sự đồng thuận, không có giúp sức hay được các bị cáo khác hứa hẹn cho sử dụng ma tuý hay bất kỳ lợi ích vật chất gì, không liên quan gì đến việc Tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không truy cứu là phù hợp, có căn cứ.

[11] Đối với Nguyễn Văn T2 đi chơi cùng T1, sau đó được T1 chở cùng đi đến nhà P, tại phiên toà các bị cáo đều khai nhận Tới không có tham gia hay hưởng lợi ích gì từ ma tuý, quá trình điều tra không đủ căn cứ, chứng cứ chứng minh Tới cấu thành tội phạm nên không truy cứu là phù hợp, có căn cứ.

[12] Đối với Trần Giang M qua điều tra xác minh, đối chất với N thì M không thừa nhận bán ma tuý cho N, không đủ căn cứ, chứng cứ chứng minh M cấu thành tội phạm nên không truy cứu là phù hợp, có căn cứ.

[13] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều khoản áp dụng và hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Diễm P, Võ Chí N, Nguyễn Quốc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ: các Điều 292, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Diễm P.

    Xử phạt: Nguyễn Diễm P 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024. Tiếp tục ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

  2. Căn cứ: các Điều 292, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với Võ Chí N.

    Xử phạt: Võ Chí Nguyên 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024. Tiếp tục ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

  3. Căn cứ: các Điều 292, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Quốc T1.

    Xử phạt: Nguyễn Quốc T1 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024. Tiếp tục ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 78/2024 ngày 20/02/2024 có chữ ký của người chứng kiến Đặng Thị Phương L; có chữ ký của người niêm phong Huỳnh Nhật M1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh H.

    Trả lại cho Nguyễn Quốc T1 01 (một) xe mô tô màu trắng, số khung MH1JM5116MK975801, số máy JM51E1975478, biển kiểm soát 95H1 – 678.07 đã qua sử dụng.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc Nguyễn Diễm P, Võ Chí N, Nguyễn Quốc T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/7/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Viện KSND huyện Châu Thành A;
  • - Công an huyện Châu Thành A;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HSST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 45/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger