|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 45/2024/HS-PT Ngày 23-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp;
Bà Phạm Ngọc Giàu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thành D; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thành D (tên gọi khác: C), sinh năm 1981, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Phạm Thị G; tiền sự: Không có; tiền án:
- + Bản án số: 05/2009/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2009 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã chấp hành xong toàn bộ bản án;
- + Bản án số: 49/2012/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2012 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã chấp hành xong toàn bộ bản án;
- + Bản án số: 22/2014/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh; xử phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, chưa chấp hành việc bồi thường thiệt hại số tiền 7.150.000 đồng;
- + Bản án số: 82/2017/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, chưa chấp hành về phần án phí.
Bị bắt phạm tội quả tang ngày 25-7-2023 đến ngày 03-8-2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Bị hại:
Bà Lê Thị S, sinh năm 1966; nơi cư trú: Ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Ông Ngô Thành T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Ông Chàm A D1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1979; cư trú tại: Ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ, ngày 24-7-2023, sau khi đánh bạc tại Casino ở V Campuchia, Nguyễn Thành D điều khiển xe mô tô loại Wave Trung Quốc, biển số 61Z3-0746 đi về Việt Nam qua Cửa khẩu P1, thuộc huyện C, tỉnh Tây Ninh thì gặp người tên P giới thiệu với D là nhà ở xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đang đi bộ trên đường. D cho P đi nhờ xe, trên đường đi D rủ P đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì P đồng ý. D chở P đi từ huyện C đến huyện T và huyện T, tỉnh Tây Ninh tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến rẫy mì thuộc tổ G, H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh, D và P phát hiện xe mô tô hiệu FutureFi, màu nâu-vàng-đen, biển số 70D1-205.65 của bà Lê Thị S và xe mô tô hiệu Wave alpha màu xanh-đen-bạc, biển số 70D1-378.24 của bà Nguyễn Thị Kim C1, đang dựng cặp lề đường để đi làm cỏ mì cách đó khoảng 200m. D giấu xe mô tô biển số 61Z3-0746 vào đám cao su cách đó khoảng 70m, rồi cùng P trộm cắp 02 chiếc xe mô tô nói trên điều khiển xe ra đường T chạy về thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, D giao lại 02 chiếc xe mô tô trộm được cho P đi bán, còn D bắt xe ôm đi sang C bên Campuchia đánh bạc. Đến khoảng 00 giờ, ngày 25-7-2023 D điều khiển xe mô tô loại Sirius, màu vàng-đen, biển số 70E1-005.32 đi từ C về thị trấn T, huyện T gặp P và cùng nhau quay lại đám cao su để lấy chiếc xe mô tô biển số 61Z3-0746, P vào đám cao su đẩy xe ra nhưng không nổ máy được nên ngồi lên xe cầm lái cho D kè đẩy đi ra đường T hướng về ngã tư xã H, huyện T. Khi D và P đi đến đoạn đường thuộc tổ C, ấp H, xã H thì bị Công an xã H tuần tra phát hiện truy đuổi, người tên P bỏ xe mô tô biển số 61Z3-0746 lại, chạy bộ vào đám cao su trốn thoát, còn D điều khiển xe mô tô biển số 70E1- 005.32 đi về hướng ngã ba Lò Gò rẽ phải ra hướng xã T để đi về xã T. Khi đến khu vực Cầu S thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an xã H phối hợp cùng Công an xã T bắt quả tang.
Ngoài ra, từ ngày 08-5-2023 đến ngày 18-6-2023, Nguyễn Thành D còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T và huyện T, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 08-5-2023, sau khi đánh bạc tại Casino ở Campuchia, D đi về Việt Nam qua cửa khẩu Quốc tế X. Sau đó, D đi bộ theo đường mòn trong lô cao su thì phát hiện có 03 chiếc xe mô tô dựng phía trước chòi giữ vườn cao su thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trong đó, có chiếc xe mô tô loại Wave Trung Quốc, màu xanh, biển số 70F1-2189, của ông Ngô Thành T, có sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi nên D đẩy trộm xe ra ngoài đường khoảng 500m rồi nổ máy điều khiển xe đi về nhà. Sau đó, D mua biển số xe 61Z3-0746 ở một vựa ve chai không rõ địa chỉ thay vào để sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 24-7-2023, D sử dụng xe này cùng P đi trộm cắp 02 xe mô tô tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 22 giờ, ngày 18-6-2023, sau khi đánh bạc tại Casino ở Campuchia, D đi về Việt Nam qua Cửa khẩu P1 thuộc huyện C, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, D đón xe ôm đi đến khu vực ngã ba K thuộc xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh thì xuống xe đi bộ về hướng xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tìm nhà dân có tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 04 giờ, ngày 19-6-2023, D thấy nhà anh Chàm A D1, có chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng-đỏ-đen, biển số 70H1-352.68, dựng phía trước nhà, có sẵn chìa khóa trên xe và không có người trông coi nên D lén lút đi vào đẩy trộm xe ra ngoài đường khoảng 50m rồi nổ máy điều khiển xe đi về nhà. Do thấy xe còn mới nên D đã mua biển số 70G1-209.69 của một vựa ve chai không rõ địa chỉ, thay vào xe và sửa chữa lại để ở nhà sử dụng. Ngày 25-7-2023, sau khi D bị bắt thì mẹ của D là bà Phạm Thị G, sinh năm 1960, ngụ ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh đã giao nộp chiếc xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Bản kết luận định giá tài sản số 43 ngày 28-7-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, biển số 70D1- 378.24, số khung: 1252FY300447, số máy: HC12E7300521, đã qua sử dụng có giá trị là 14.700.000 đồng; 01 xe mô tô loại Future Fi, màu nâu-vàng-đen, biển số 70D1- 205.65, số khung: JC5359DY010758, số máy: JC54E1018038, đã qua sử dụng có giá trị là 13.200.000 đồng.
- Bản kết luận định giá tài sản số 42 ngày 27-9-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng-đỏ-đen, biển số 70H1-352.68, số khung: 0610JY654705, số máy: G3D4E681837, đã qua sử dụng có giá trị là 13.667.000 đồng.
- Bản kết luận định giá tài sản số 63 ngày 20-10-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô loại Wave (Trung Quốc), màu xanh, biển số 70F1-2189, số khung: 3XCHOA6YA001373, số máy: IP53FMHY0232571, đã qua sử dụng có giá trị là 1.500.000 đồng.
- Kết luận giám định số 1175 ngày 28-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Dấu vết đường vân thu tại vị trí ốp nhựa phía trên chụp đèn chiếu sáng xe mô tô biển số 61Z3-0746 với dấu vân tay in ở ngón “Giữa trái” trên chỉ bản họ tên: Nguyễn Thành D, sinh ngày 23-3-1981, nơi cư trú ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh làm ngày 25-7-2023 là của cùng một người.
- Về vật chứng thu giữ: Thu giữ của bị cáo:
- + 01 (một) con dao dài 16,5 cm, cán bằng nhựa màu tím dài 09 cm, lưỡi dao dài 7,5 cm, rộng 1,3 cm, vát nhọn đầu; 01 (một) mũ bảo hiểm, màu xanh; 01 (một) áo jean dài tay, màu xanh; 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, có mũ; 01 (một) đôi giày hiệu Sport bằng nhựa, màu xám; 01 (một) đôi giày hiệu Zara, màu đen; 01 (một) biển số 61Z3-0746; 01 (một) biển số 70G1- 209.69.
- + 01 (một) Passport, mang tên Nguyễn Thành D.
- + Tiền Việt Nam 416.000 đồng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thành D đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, cụ thể:
- + Bà Nguyễn Thị Kim C1 đã nhận số tiền bồi thường là 14.700.000 đồng; bà Lê Thị S đã nhận số tiền bồi thường là 13.200.000 đồng; ông Ngô Thành T đã nhận số tiền bồi thường 500.000 đồng; không yêu cầu gì thêm.
- + Ông Chàm A D1 đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng-đỏ-đen, biển số 70H1-352.68, số khung: 0610JY654705, số máy: G3D4E681837.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn L (là anh ruột của bị cáo D) đã bồi thường cho các bị hại bà Nguyễn Thị Kim C1, bà Ngô Thị Thanh S1, ông Lê Thành T1 thay bị cáo D tổng số tiền 28.400.000 đồng, ông L không yêu cầu bị cáo D trả lại số tiền này nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về kê biên tài sản: Bị cáo không có sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 25-7-2023.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thành D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Bị cáo có nhân thân xấu, tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần; bị D kháng cáo nhưng không đưa ra được các tình tiết giảm nhẹ mới. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành D; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo đúng hình thức và trong thời hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thành D thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Vào khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 24-7-2023 tại tổ G, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; bị cáo D cùng với đối tượng tên P (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đã lén lút chiếm đoạt: 01 xe mô tô hiệu FutureFi, màu nâu-vàng-đen, biển số 70D1-205.65 của bà Lê Thị S, trị giá 13.200.000 đồng; 01 xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, biển số 70D1- 378.24 của bà Nguyễn Thị Kim C1, trị giá 14.700.000 đồng. Quá trình điều tra còn xác định được: Ngày 08-5-2023 D lén lút chiếm đoạt của ông Ngô Thành T 01 xe mô tô loại Wave Trung Quốc, màu xanh, biển số 70F1-2189, trị giá 1.500.000 đồng tại khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và ngày 19-6-2023 lén lút chiếm đoạt của ông Chàm A D1 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng-đỏ-đen, biển số 70H1-352.68, trị giá 13.667.000 đồng tại khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tổng giá trị tài sản bị cáo D đã chiếm đoạt là 43.067.000 đồng. Bị cáo có bốn tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, trong đó một lần đã bị áp dụng tình tiết định khung tái phạm và hai lần bị áp dụng tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo D có bốn tiền án về “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành án xong, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên cần xử mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm có xem xét:
[4.1] Bị cáo Nguyễn Thành D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho các bị hại; là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Trong khoảng thời gian từ ngày 08-5-2023 đến ngày 24-7-2023 bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo Nguyễn Thành D bị áp dụng tình tiết tặng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.3] Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo D 05 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không nặng.
[4.4] Bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới nên không thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành D;
- - Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
2. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 25-7-2023.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thành D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Tòng |
Bản án số 45/2024/HS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 45/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành D "Trộm cắp tài sản"
