TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày: 29/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Kim Hoàng
- Bà Võ Thanh Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đặng Phương D; giới tính: Nữ; sinh năm 1988; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F T, phường T, Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số F T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Bán trà sữa; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Đặng Văn H và bà Bùi Thị Thanh H1 (đã chết); chưa có chồng, con; Tiền án, Tiền sự: Không có.
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/11/2023.
(có mặt)
2. Vũ Nhật H2; giới tính: Nam; sinh năm 2002; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B M, Phường A, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số E L, Phường B, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Bán trà sữa; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Văn H3 và bà Đoàn Thị Kim L; chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không có.
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/11/2023.
(có mặt)
3. Huỳnh Minh Đ; giới tính: Nam; sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B N, Phường A, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số D H, Phường C, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Huỳnh Minh Ý (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim H4; chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không có.
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/11/2023.
(có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị Kim H4, sinh năm 1964
- Nơi cư trú: Số B N, Phường A, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- (có mặt)
- - Ông Đoàn Tuấn A, sinh năm 1993
- Nơi cư trú: Số E L, Phường B, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Phương D mở bán trà sữa tại số H T, Phường A, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, D thuê Vũ Nhật H2 giúp việc buôn bán, Huỳnh Minh Đ là khách thường đến quán nên quen biết nhau.
Vào khoảng tháng 10 năm 2023, Đặng Phương D khởi xướng việc mua bán ma túy để kiếm lời với Vũ Nhật H2, H2 đồng ý. D và H2 cùng bàn bạc thống nhất với nhau mua ma túy để bán lại cho người khác nhằm hưởng lợi. Đặng Phương D và Vũ Nhật H2 thỏa thuận khi có người mua ma túy, D sẽ báo cho H2 biết, Hoàng liên 1 với đối tượng tên “Kiều A1” (không rõ lai lịch) để mua ma túy rồi bán lại cho người mua, mỗi lần bán được ma tuý D trả tiền công cho H2 là 200.000 đồng.
Ngày 05/11/2023, Huỳnh Minh Đ nhận được điện thoại của một người không rõ lai lịch hỏi mua ma túy, nên Đ đã liên lạc với Đặng Phương D hỏi mua 03 viên thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy loại “Khay” với giá là 2.850.000 đồng. D đồng ý bán ma túy cho Đ và hẹn Huỳnh Minh Đ đến quán trà sữa số H T, Phường A, quận Phú Nhuận để giao ma túy, Đ đã chuyển khoản thanh toán tiền mua ma túy cho D. Sau đó, D thông báo cho Vũ Nhật H2 liên lạc với đối tượng “Kiều Anh” để mua ma túy theo yêu cầu của Đ với giá là 2.500.000 đồng. Sau đó, H2 đi đến khu vực quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp “Kiều Anh” mua 03 viên thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy loại “Khay”. Sau khi nhận được ma túy, H2 đem ma túy về số H T, Phường A, quận Phú Nhuận giao cho Đ. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi mua được ma túy, Đ bỏ ma túy vào gói nylon mùa trắng có chữ UGREEN rồi điều khiển xe gắn máy biển số 59E2-228.11 đi đến trước số E N, Phường H, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh chờ người mua ma túy đến để bán, thì bị Công an Quận 4 bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 12452/KL-KTHS ngày 14/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Huỳnh Minh Đ, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường T, Quận 4, bên trong có 01 gói nylon màu trắng có ghi chữ UGREEN, chứa:
- 03 viên nén màu hồng trong 01 gói nylon viền xanh đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 1,2096 gam, loại MDMA;
- Tinh thể không trong 01 gói nylon viền xanh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 2,1757 gam, loại Ketamine.
Sau khi phát hiện vụ việc Đ mua ma túy của D, đến khoảng 13 giờ 05 phút ngày 06/11/2023, Công an Quận 4, phối hợp với Công an quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện D đang ngồi trên xe gắn máy biển số 59T2-641.89 tại trước nhà số D H, Phường C, quận Phú Nhuận, nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong găng tay bên trái của D đang cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, D khai nhận là ma túy của D cất giấu nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời.
Tại Kết luận giám định số 12469/KL-KTHS ngày 14/11/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chứ ký ghi tên Đặng Phương D, Trân Minh T1 (Công an Quận 4) và hình dấu Công an Phường C, quận Phú Nhuận là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 2,1595 gam, loại Ketamine.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 4, Huỳnh Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2023 đến ngày 06/11/2023, D và H2 đã mua ma túy của đối tượng “Kiều Anh” và bán cho người khác để hưởng lợi khoảng 10 lần (D và H2 không xác định được cụ thể đã bán cho ai do không biết lai lịch của những người này). H2 mua của “Kiều Anh” 01 viên thuốc lắc giá là 200.000 đồng, bán lại với giá là 250.000 đồng; mua nửa hộp 5 viên ma túy loại “Khay” với giá là 1.900.000 đồng và bán lại với giá là 2.500.000 đồng, tổng số tiền D thu lợi từ việc bán ma túy khoảng là 4.500.000 đồng, H2 thu lợi khoảng là 1.800.000 đồng.
Đối với “Kiều A1” theo lời khai của Vũ Nhật H2 là người bán ma túy cho H2 ở khu vực quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay chưa xác định được lai lịch, nên chưa có cơ sở xử lý.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Minh Đ, Nguyễn Quang T (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường T, Quận 4, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định;
- 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đặng Phương D, Trần Minh T1 (Công an Quận 4) và hình dấu Công an Phường C, Quận Phú Nhuận, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
Tạm giữ của Huỳnh Minh Đ:
- 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bị phồng rộp màn hình trước, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, Đ sử dụng để liên lạc mua bán ma túy;
- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha, màu trắng vàng, biển số 59E2-228.11, số máy: E3R2E3163927, số khung: MH3SE88H0NJ372912, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. Qua xác minh xe này do bà Nguyễn Thị Kim H4 (là mẹ của Huỳnh Minh Đ) đứng tên sở hữu. Ngày 05/11/2023, bà H4 cho Đ mượn xe để đi công việc, bà H4 không biết việc Đ sử dụng xe này để đi mua bán trái phép chất ma túy.
Tạm giữ của Đặng Phương D:
- 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, D sử dụng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, D sử dụng để mở nhạc tại quán;
- 01 túi xách màu trắng và 02 găng tay bằng vải, D sử dụng để đựng ma túy;
- 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu xanh, biển số 59T2-641-89, số máy: LMC1E1007872, số khung: MH1JMC112NK007765, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. Qua xác minh xe này do Đặng Phương D đứng tên chủ sở hữu, D sử dụng xe này làm phương tiện để đi mua bán trái phép chất ma túy.
Tạm giữ của Vũ Nhật H2:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, H2 sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy;
- 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu đen-bạc-vàng-đồng, biển số 59E2-062.62, số máy: KC34E1095203, số khung: RLHKC371KY049614, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. Qua xác minh xe này do ông Đoàn Tuấn A (là anh họ của H2) đứng tên sở hữu. Ông Tuấn A cho H2 mượn xe này để làm phương tiện đi lại phụ giúp gia đình và không biết việc H2 sử dụng xe này để mua bán trái phép chất ma túy.
Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKSQ4 ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố Huỳnh Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 và Huỳnh Minh Đ có lời khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, bản thân các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, nên xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội:
Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố Huỳnh Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đề nghị tuyên phạt đối với bị cáo D từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo H2 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù và bị cáo Đ từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù; Buộc bị cáo D nộp phạt số tiền là 10.000.000 đồng, bị cáo H2 nộp phạt số tiền là 10.000.000 đồng và bị cáo Đ nộp phạt số tiền là 10.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Minh Đ, Nguyễn Quang T (Điều tra viên) và hình dấu Công an P1, Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đặng Phương D, Trần Minh Tuấn (Công an Quận 4) và hình dấu Công an Phường C, quận Phú Nhuận, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, 01 túi xách màu trắng và 02 găng tay bằng vải;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh và 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu xanh, biển số 59T2-641-89, số máy: LMC1E1007872, số khung: MH1JMC112NK007765;
- Buộc bị cáo D nộp thu lợi bất chính số tiền là 4.500.000 đồng và bị cáo H2 nộp số tiền là 1.800.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước;
- Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động;
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim H4 01 xe gắn máy hiệu Yamaha, màu trắng vàng, biển số 59E2-228.11, số máy: E3R2E3163927, số khung: MH3SE88H0NJ372912;
- Trả lại cho ông Đoàn Tuấn A 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu đen-bạc- vàng-đồng, biển số: 59E2-062.62, số máy: KC34E1095203, số khung: RLHKC371KY049614.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 và Huỳnh Minh Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến ngày 05/11/2023, Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 thỏa thuận mua bán ma túy nhằm hưởng lợi. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D và H2 khai nhận đã mua 10 lần ma túy của “Kiều Anh” (chưa rõ lai lịch) để bán cho người khác nhằm hưởng lợi. Trong đó, ngày 05/11/2023, D và H2 đã bán cho Huỳnh Minh Đ 03 viên nén màu hồng là ma túy loại MDMA, có khối lượng là 1,2096 gam và 01 gói nylon chứa ma túy loại Ketamine, có khối lượng là 2,1757 gam. Đ khai nhận mua ma túy của D và H2 nhằm mục đích để bán cho người khác nhằm hưởng lợi. Ngoài ra, ngày 06/11/2023, Công an còn phát hiện thu giữ của D 01 gói ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 2,1595 gam, D cất giữ nhằm mục đích bán cho người khác để hưởng lợi.
Như vậy, Hội đồng xét xử xét hành vi của các bị cáo Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hành vi của bị cáo Huỳnh Minh Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 là có căn cứ.
[3] Xét hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội đến cùng. Trong vụ án này, ngoài hành vi của bị cáo Đ, hành vi của bị cáo D và bị cáo H2 mang tính chất đồng phạm giản đơn, theo đó, bị cáo D là người khởi xướng, bị cáo H2 là người giúp sức để bị cáo D thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cho nên, cần có mức hình phạt tương xứng mới đủ sức răn đe các bị cáo. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nên khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về thu lợi bất chính: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D khai nhận số tiền thu lợi từ việc bán ma túy là 4.500.000 đồng và bị cáo H2 khai nhận số tiền thu lợi từ việc bán ma túy là 1.800.000 đồng, Hội đồng xét xử xét đây là tiền thu lợi bất chính mà các bị cáo có được từ việc mua bán trái phép chất ma túy, nên cần buộc bị cáo D nộp số tiền là 4.500.000 đồng và bị cáo H2 nộp số tiền là 1.800.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Minh Đ, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên), hình dấu Công an Phường T, Quận 4, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đặng Phương D, Trần Minh Tuấn (Công an Quận 4), hình dấu Công an Phường C, quận Phú Nhuận, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, 01 túi xách màu trắng và 02 găng tay bằng vải, bị cáo D sử dụng để đựng ma túy, xét đây là vật cấm tàng trữ và là vật dụng cất giấu ma túy, nên cần tịch thu, tiêu hủy;
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bị phồng rộp màn hình trước, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, bị cáo Đ sử dụng để liên lạc mua bán ma túy; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, bị cáo D sử dụng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, bị cáo H2 sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy và 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu xanh, biển số 59T2-641.89, số máy: LMC1E1007872, số khung: MH1JMC112NK007765, qua xác minh xe này do bị cáo D đứng tên chủ sở hữu, bị cáo D sử dụng xe này làm phương tiện để đi mua bán trái phép chất ma túy, xét các tài sản này các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động, bị cáo D sử dụng để mở nhạc tại quán, xét điện thoại này không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo D;
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha, màu trắng vàng, biển số 59E2-228.11, số máy: E3R2E3163927, số khung: MH3SE88H0NJ372912. Qua xác minh xe này do Nguyễn Thị Kim H4 (là mẹ của Huỳnh Minh Đ) đứng tên sở hữu. Ngày 05/11/2023, bà H4 cho Đ mượn xe để đi công việc, bà H4 không biết việc Đ sử dụng xe này để đi mua bán trái phép chất ma túy, nên cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim H4;
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu đen-bạc-vàng-đồng, biển số: 59E2-062.62, số máy: KC34E1095203, số khung: RLHKC371KY049614. Qua xác minh xe này do ông Đoàn Tuấn A (là anh họ của bị cáo H2) đứng tên sở hữu. Ông Đoàn Tuấn A cho H2 mượn xe này để làm phương tiện đi lại phụ giúp gia đình và không biết việc H2 sử dụng xe này để mua bán trái phép chất ma túy, nên cần trả lại cho ông Đoàn Tuấn A.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Đặng Phương D 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2023.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Vũ Nhật Hoàng 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Huỳnh Minh Đ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Buộc bị cáo Đặng Phương D nộp số tiền là 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng và bị cáo Vũ Nhật H2 nộp số tiền là 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước;
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Minh Đ, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên), hình dấu Công an Phường T, Quận 4, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đặng Phương D, Trần Minh Tuấn (Công an Quận 4), hình dấu Công an Phường C, quận Phú Nhuận, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 túi xách màu trắng và 02 găng tay bằng vải;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, bị phồng rộp màn hình trước, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động và 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu xanh, biển số 59T2-641.89, số máy: LMC1E1007872, số khung: MH1JMC112NK007765.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim H4 01 xe gắn máy hiệu Yamaha, màu trắng vàng, biển số 59E2-228.11, số máy: E3R2E3163927, số khung: MH3SE88H0NJ372912;
- Trả lại cho ông Đoàn Tuấn A 01 xe gắn máy hiệu Honda, màu đen- bạc- vàng-đồng, biển số 59E2-062.62, số máy: KC34E1095203, số khung: RLHKC371KY049614.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4).
- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Hồng Loan |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đinh Kim Hoàng Võ Thanh Nga | Nguyễn Trần Hồng Loan |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Phương D, Vũ Nhật H2 và Huỳnh Minh Đ
