Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 27/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Liên
  • Ông Nguyễn Văn Bình
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đinh Hồng Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Trung Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày: 04/6/2006, tại: H, Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn I, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Hoàng Thị Đ1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất nhập cảnh”. Có mặt.

- Bị hại: Trần Văn T, sinh năm 2006 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trần Văn Đ2, sinh năm: 1981 (bố đẻ của bị hại T); nơi cư trú: thôn I, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt có lý do.

- Người làm chứng: Đinh Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 13/8/2024, Trần Trung Đ (không có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, biển kiểm soát 14L1-011.06 (dung tích 110cm³) chở anh Trần Văn T (sinh năm 2006, trú tại thôn I, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh) đi từ đường Q đi Cảng H. Khi đi đến đoạn đường K + 600 đường dẫn từ Quốc lộ A đi Cảng H thuộc thôn C, xã Q, huyện H, lúc này trời mưa, đường trơn, Đ điều khiển xe với vận tốc khoảng 60km/h và đi ở làn đường sát mép đường bên phải, thì xe bị loạng chạng tay lái, Đ liền giảm ga và bóp phanh tay để giảm tốc độ làm cho xe đi ra đi ra rãnh thoát nước bên phải đường, va vào viên bó vỉa hè ở lề đường, dẫn đến xe bị rê trượt và đổ văng ra vỉa hè, Đ và anh T bị ngã văng ra vỉa hè, gây tai nạn. Hậu quả: anh Trần Văn T bị tử vong trên đường đi cấp cứu, bản thân Đ bị thương tích phải đi cấp cứu và điều trị; xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H, lập ngày 13/8/2024 thể hiện: hiện trường xảy ra tại Km 0 + 600 đường dẫn từ Quốc lộ A đi Cảng H thuộc thôn C, xã Q, huyện H. Hiện trường vụ tai nạn là đoạn đường dải nhựa, mặt đường bằng phẳng, rộng 35m; là đường hai chiều, giữa đường có dải phân cách cứng, phân chia hai phần đường, mối phần đường được chia thành bốn làn đường, phần đường bên phải rộng 14,5m, được chia thành bốn làn đường bằng vạch sơn đứt đoạn. Hiện trường được tính theo hướng Quốc lộ A đi Cảng H, các dấu vết để lại nằm hoàn toàn tại lề đường bên phải: tại mặt trên viên bó vỉa hè có vết cày xước dạng đứt đoạn còn mới, kí hiệu (1) kích thước (58,83 x 0,3)m hướng Quốc lộ A đi Cảng H, đầu vết cách mép đường bên phải 0,4m, cao so với mặt đường 13cm; đuôi vết nằm tại sườn bên phải xe mô tô BKS 14L1 - 011.06; tại mặt đường và lề đường bên phải xe mô tô BKS 14L1 - 011.06 kí hiệu (2) đổ nghiêng sang phải, đầu xe quay hướng Cảng H, trục bánh trước cách mép đường bên phải 0,3m, trục sau cách mép đường bên phải 0,25m; tại mặt đường và lề đường bên phải có đám vỡ của mảnh thủy tinh, kí hiệu (3) trong diện (4,9 x 2,8)m, tâm đám vỡ cách mép đường bên phải 0,9m.

Tiến hành khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn thấy, các dấu vết để lại trên xe mô tô BKS 14L1 - 011.06 cơ bản phù hợp các dấu vết để lại hiện trường vụ tai nạn giao thông.

Tại Kết luận giám định tử thi số 258/KLGĐTT-TTPY ngày 14/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận: nguyên nhân chết của Trần Văn T: sốc đa chấn thương, sốc mất máu do chấn thương bụng kín, vỡ gan + gãy 1/3 dưới xương đùi hai bên, gãy đầu trên 02 xương cẳng chân phải.

Bản Cáo trạng số 1186/CT-VKSHH ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà truy tố bị cáo Trần Trung Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Trần Trung Đ khai: bị cáo không có giấy phép lái xe nhưng vào khoảng 05 giờ 50 phút ngày 13/8/2024 vẫn điều khiển xe mô tô Yamaha - S, BKS 14L1-011.06 chở Trần Văn T, sinh năm 2006 đi từ đường dẫn quốc lộ A đến khu Công nghiệp C để đi làm. Do trời mưa, đường trơn trượt, không làm chủ tay lái dẫn đến xe loạng choạng mất lái đi ra khu vực rãnh thoát nước va vào viên bó vỉa hè gây tai nạn. Hậu quả anh T tử vong trên đường đi cấp cứu, bị cáo bị thương tích, xe mô tô bị hư hòng. Bị cáo nhận thức hành vi không có giấy phép lái xe mà điều khiển xe là vi phạm pháp luật, hậu quả làm chết bạn thân của mình và xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi của bị cáo.

Trong đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, ông Trần Văn Đ2 (bố đẻ của bị hại Trần Văn T) là người đại diện hợp pháp của bị hại có ý kiến: con trai ông là Trần Văn T chơi thân với Trần Trung Đ. Đầu tháng 7 cả hai xin làm công nhân tại khu công nghiệp T. Hàng ngày Đ qua nhà đón T đi làm. Khoảng 06 giờ ngày 13/8/2024 ông nhận được thông tin Đ và T bị tai nạn giao thông và T đã tử vong. Sau này ông được biết tại thời điểm xảy ra tai nạn thì Đ là người điều khiển xe máy chở T ngồi sau. Đây là tai nạn không mong muốn, gia đình ông đã nhận được tiền bồi thường thiệt hại do Đ và gia đình Đ chi trả. Nay đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng Đinh Văn V vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: sáng ngày13/8/2024 trên đường đi làm anh nhìn thấy 01 xe mô tô bị đổ ngã ở khu vực rãnh thoát nước sát mép đường bên phải theo chiều đi từ Quốc lộ A đi khu Công nghiệp C. Anh thấy có 01 nam thanh niên (sau này biết tên là T) nằm bất động tại khu vực cột đèn chiếu sáng cắm ở lề đường bên phải cách xe mô tô BKS 14L1-011.06 về hướng đi quốc lộ A khoảng 30 m và Đ đang đi bộ khập khiễng từ hướng xe mô tô về chỗ T. Sau đó anh V đã gọi người đưa T và Đ đi cấp cứu tại Trung tâm y tế H và được biết T đã tử vong.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Trung Đ 36 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xác minh và trả tài sản cho chủ sở hữu nên không đề cập.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 13/8/2024, tại đoạn đường dẫn từ Quốc lộ A đi Cảng H thuộc thôn C, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh.Trần Trung Đ không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14L1-011.06 chở anh Trần Văn T ngồi sau hướng từ đường Q đi Cảng H do không làm chủ tay lái, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp trời mưa, mặt đường trơn trượt đã tự đổ ngã gây tai nạn. Hậu quả anh T tử vong.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại sức khoẻ, tài sản của công dân là đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ, phải chú ý quan sát, phải giảm tốc độ trong các trường hợp: trời mưa, có sương mù, khói bụi, mặt đường trơn, trượt, lầy lội... và phải có giấy phép lái xe theo quy định khi tham gia giao thông. Do bị cáo không thực hiện đúng Luật Giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn xảy ra. Bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; khoản 11, Điều 5 Thông tư số 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp: “Không có giấy phép lái xe theo quy định” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tình tiết tăng nặng: không có. Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, khắc phục hậu quả; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt đối với bị cáo: căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giám sát, giáo dục; có khả năng tự cải tạo nên việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy hành vi phạm tội do lỗi vô ý, bị cáo không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo, người đại diện của bị hại đã thống nhất thoả thuận bồi thường xong, đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xác minh và trả tài sản cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Trung Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/11/2024).
  2. Giao bị cáo Trần Trung Đ cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo Trần Trung Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 167/LC-CQĐT ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 384/QĐ-CQCSĐT ngày 06/9/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh.

  3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Trần Trung Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
  4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại nơi thường trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND huyện Hải Hà;
  • - HSNV CA huyện Hải Hà;
  • - CCTHADS huyện Hải Hà;
  • - CQTHAHS, CQĐT CA huyện Hải Hà
  • - Bị cáo; người đại diện của bị hại;
  • - THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 13/8/2024, Trần Trung Đ (không có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, biển kiểm soát 14L1- 011.06 (dung tích 110cm3) chở anh Trần Văn T (sinh năm 2006, trú tại thôn I, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh) đi từ đường Q đi Cảng H. Khi đi đến đoạn đường K + 600 đường dẫn từ Quốc lộ A đi Cảng H thuộc thôn C, xã Q, huyện H, lúc này trời mưa, đường trơn, Đ điều khiển xe với vận tốc khoảng 60km/h và đi ở làn đường sát mép đường bên phải, thì xe bị loạng chạng tay lái, Đ liền giảm ga và bóp phanh tay để giảm tốc độ làm cho xe đi ra đi ra rãnh thoát nước bên phải đường, va vào viên bó vỉa hè ở lề đường, dẫn đến xe bị rê trượt và đổ văng ra vỉa hè, Đ và anh T bị ngã văng ra vỉa hè, gây tai nạn. Hậu quả: anh Trần Văn T bị tử vong trên đường đi cấp cứu, bản thân Đ bị thương tích phải đi cấp cứu và điều trị; xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger