Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Hương và bà Phan Thị Mấy
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Lương Văn T, sinh năm 1984; Tại: Xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; CCCD số: [...]; Con ông: Lương Minh T1, đã chết, Con bà: Ngân Thị C, sinh năm 1950; Có vợ là Ngân Thị D, sinh năm 1984; Con có 03 lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 09/11/2021, Lương Văn T bị UBND xã M áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 03 tháng. Đến ngày 09/02/2022, Ủy ban nhân dân xã M ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Ngày 15/7/2023, Lương Văn T bị Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/7/2024 chuyển tạm giam ngày 31/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K, trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh S, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 25 tháng 7 năm 2024, Lương Văn T đi bộ từ nhà của mình ở bản M, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa đến bờ sông M thuộc địa giới hành chính bản Mau, xã M, huyện M rồi bơi qua sông sang bản T, xã T, huyện M để tìm mua ma túy sử dụng. Sau khi sang sông, T đi đến đầu đường chính của bản Tà Cóm thì gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được một lượng ma túy, với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Nhận được ma túy, Lương Văn T đi xuống bụi cây ven đường rồi lấy số ma túy vừa mua được ra sử dụng đi một ít. Số ma túy còn lại, Lương Văn T cất một phần vào trong túi nilon màu xanh, sau đó tiếp tục cho vào túi nilon màu xanh khác; phần còn lại trong túi nilon màu trắng thì bị cáo bỏ vào trong túi nilon màu đen rồi cầm toàn bộ số ma túy đó quay về nhà. Khi đi đến gần bờ sông M, Lương Văn T cởi áo đang mặc trên người ra gói số ma túy được đựng trong túi nilon màu đen, cởi quần đang mặc ra và cho số ma túy đựng trong túi nilon màu xanh vào túi quần phía sau bên trái rồi gấp lại. Sau đó, Lương Văn T cầm quần áo có chứa ma túy trên tay phải và tiếp tục đi xuống bờ sông M.

Đến 19 giờ 10 phút, ngày 25 tháng 7 năm 2024, khi Lương Văn T đang ở bờ sông M thuộc địa giới hành chính bản Tà cóm, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng T4 – Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh T phối hợp cùng Công an xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa yêu cầu kiểm tra tra hành chính, thu giữ 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 cục màu trắng ngà và 01 túi nilon màu xanh bên trong (tiếp theo) có túi nilon màu xanh khác chứa 01 cục màu trắng ngà, Lương Văn T khai nhận đó là H của T vừa mua của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết để đem về sử dụng, nên cơ quan chức năng tuyên bố bắt người phạm tội quả tang đối với Lương Văn T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 2773/KL-KTHS ngày 27/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - 01 cục màu trắng ngà chứa trong túi nilon màu đen của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,490g (Không phẩy bốn trăm chín mươi gam) loại: Heroine (Heroin);
  • - 01 cục màu trắng ngà chứa trong túi nilon màu xanh của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,110g (Không phẩy một trăm mười gam) loại: Heroine (Heroin).

Tổng số ma túy Lương Văn T tàng trữ trái phép là 0,6g (Không phẩy sáu gam).

Quá trình điều tra, Lương Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS-ML ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố, không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, không ai xúi giục hay ép buộc bị cáo nhận tội thay người khác. Bị cáo khai báo là biết rõ hành vi tàng trữ ma túy trái phép là vi phạm pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng do bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, không kìm chế được nên đã cố tình đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không oan sai, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.

Tranh luận và luận tội: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tranh luận và luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thái độ ăn năn hối cải. Nên, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên toàn bộ quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Tuyên, bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 16 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì bị cáo không có thu nhập ổn định.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định thu giữ của bị cáo.

Về án phí: Miễn án phí HSST cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số (T2) thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn.

Ý kiến của người bào chữa: Người bào chữa cho bị cáo đồng tình với quan điểm truy tố về tội danh, điều luật và khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Cáo trạng đã truy tố bị cáo cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo cũng chỉ là nạn nhân của tệ nạn ma túy, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo Lương Văn T mức án từ 14-16 tháng tù, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo đồng tình với luận cứ bào chữa của người bào chữa, bị cáo không bổ sung thêm gì, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, thời gian, không gian, địa điểm và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 25/7/2024, Lương Văn T đi bộ từ nhà của mình ở bản M, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, rồi bơi qua sông sang bản T, xã T, huyện M để tìm mua ma túy sử dụng. Sau khi sang sông, T đi đến đầu đường chính của bản Tà Cóm thì gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được một lượng ma túy với số tiền là 200.000đ. Khi mua được ma túy, T đi xuống bụi cây ven đường rồi lấy số ma túy mua được ra sử dụng đi một ít. Số ma túy còn lại, T cất một phần vào trong túi nilon màu xanh, sau đó tiếp tục cho vào túi nilon màu xanh khác; phần còn lại trong túi nilon màu trắng thì bị cáo bỏ vào trong túi nilon màu đen rồi cầm toàn bộ số ma túy đó quay về nhà để sử dụng dần. Khi Lương Văn T đi xuống bờ sông M thuộc địa giới hành chính bản Tà cóm, xã T, huyện M thì bị Cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng chất ma túy thu giữ của Lương Văn T qua giám định có tổng khối lượng là 0,6g (Không phẩy sáu gam), loại heroine.

Với năng lực chịu trách nhiệm hình sự, loại ma túy tàng trữ, khối lượng ma túy thu giữ của Lương Văn T, thì Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, vì bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện và bị pháp luật nghiêm cấm mua bán, sử dụng, tàng trữ,... cũng như khi con người sử dụng thì sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào ma túy, ngoài ra ma túy còn hủy hoại thể chất, tinh thần, làm cho bao gia đình ly tán, tan gia, bại sản, vợ mất chồng, con mất cha, và ma túy cũng là tác nhân phát sinh các tội phạm khác, như như trộm cắp, cướp giật, giết người....Bị cáo biết những tác hại nguy hiểm của ma túy nhưng bị cáo nhưng vẫn cố ý tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về quản lý chất ma túy của nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, nên HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, sau đó, bị cáo lại bị Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng, rèn luyện, lại tiếp tục lao vào con đường hút, chích, nghiện ngập ma túy.

[5]. Xét về hình phạt:

Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, phòng ngừa, đồng thời để bị cáo cai nghiện chất ma túy; Thấy rằng đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với hành vi phạm tội, cũng như khối lượng chất ma túy thu giữ, đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo làm nương rẫy, không có thu nhập ổn định. Nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Xét về vật chứng trong vụ án:

Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, đây là vật chứng vụ án, là chất nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

[7]. Xét về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (T2) thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên HĐXX miễn án phí HSST cho bị cáo.

[8]. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[9]. Các nhận định khác:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy cho Lương Văn T, thì cơ quan CSĐT không có căn cứ xác minh làm rõ, vì Lương Văn T không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này, ngoài lời khai của Lương Văn T không còn tài liệu nào để chứng minh. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện M không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên, Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Lương Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (25/7/2024).

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn 01 phong bì niêm phong bên trong có ma túy còn lại do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành sau giám định, mặt trước ghi Đồn BP Trung Lý TC04 ngày 26/7/2024, mặt sau được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T3, Lê Xuân H1 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T”.

Vật chứng trên, đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 61/2024/TV-CCTHADS ngày 09/9/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn T.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai, có mặt bị cáo và người bào chữa cho bị cáo; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Mường Lát;
  • - Phòng 7 - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an H. Mường Lát;
  • - Cơ quan THAHS - CA huyện Mường Lát;
  • - Bộ phận hồ sơ Công an H. Mường Lát;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Lát;
  • - UBND xã Mường Lý, huyện Mường Lát;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Hồ sơ Thi hành án Hình sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ, ngày 25 tháng 7 năm 2024, Lương Văn T đi bộ từ nhà của mình ở bản M, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa đến bờ sông M thuộc địa giới hành chính bản Mau, xã M, huyện M rồi bơi qua sông sang bản T, xã T, huyện M để tìm mua ma túy sử dụng. Sau khi sang sông, T đi đến đầu đường chính của bản Tà Cóm thì gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được một lượng ma túy, với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Nhận được ma túy, Lương Văn T đi xuống bụi cây ven đường rồi lấy số ma túy vừa mua được ra sử dụng đi một ít. Số ma túy còn lại, Lương Văn T cất một phần vào trong túi nilon màu xanh, sau đó tiếp tục cho vào túi nilon màu xanh khác; phần còn lại trong túi nilon màu trắng thì bị cáo bỏ vào trong túi nilon màu đen rồi cầm toàn bộ số ma túy đó quay về nhà. Khi đi đến gần bờ sông M, Lương Văn T cởi áo đang mặc trên người ra gói số ma túy được đựng trong túi nilon màu đen, cởi quần đang mặc ra và cho số ma túy đựng trong túi nilon màu xanh vào túi quần phía sau bên trái rồi gấp lại. Sau đó, Lương Văn T cầm quần áo có chứa ma túy trên tay phải và tiếp tục đi xuống bờ sông M.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger