Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 24 tháng 5 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khánh, ông Phan Mạnh Thức, ông Lê Đức Thọ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tiến Thụy- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 24/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lò Văn H, sinh năm 1997, tên gọi khác: Không

    Nơi thường trú: Bản P, xã M, huyện Đ,tỉnh Điện Biên.

    Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông: Lò Văn M, sinh năm 1958 và bà Lò Thị N, sinh năm 1957; vợ, con: Chưa có.

    Tiền án: Bản án số 03/2021/HSST ngày 26/10/2021 của Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, miễn án phí hình sự sơ thẩm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2022.

    Tiền sự, nhân thân: Chưa có

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 19/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

    Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn H: Luật sư Lê Đức T - Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).

  2. Họ và tên: Lèo Văn T1, sinh năm 2000, tên gọi khác: Không

    Nơi thường trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La.

    Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông: Lèo Văn S, sinh năm 1979 và bà Lèo Thị H1, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Chưa có

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 26/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T2: Luật sư Đặng Văn T3 - Văn phòng L1 - Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt)

  3. Họ tên: Lèo Văn T4; sinh năm 1999, tên gọi khác: Không.

    Nơi thường trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La.

    Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; con ông: Lèo Văn P, sinh năm 1972 và bà: Lò Thị H2, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Chưa có

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 18/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

    Người bào chữa cho bị cáo Lèo Văn T4: Luật sư Ngô Văn C- Văn phòng Luật sư C và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

  4. Họ tên: Đèo Văn T5; sinh năm 2003, tên gọi khác: Không.

    Nơi thường trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La.

    Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông Lèo Văn H3, sinh năm 1982 và bà Lèo Thị P1, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Chưa có

    Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 19/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Vừ Thị C1, sinh năm 1990 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Bản H, xã H, Đ, tỉnh Điện Biên.

  2. Ông Nguyễn Đức V, sinh năm 1962 (vắng mặt)

    Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Minh Phượng, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Nơi ở: Thôn Tam Tầng, xã Quang Châu, huyện Việt Yên (nay là thị xã Việt Yên), tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Đức C2, sinh năm 1984 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  2. Anh Đèo Văn B, sinh năm 1995 (có mặt)

    Địa chỉ: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ ngày 18/7/2023, tại thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện V bắt quả tang Lèo Văn T4, sinh năm 1999, nơi thường trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La (hiện đang thuê trọ tại thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang) về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải đang mặc của Lèo Văn T4 04 (bốn) túi nilon (trong đó có 03 (ba) túi nilon màu xanh và 01 (một) túi nilon màu hồng bên ngoài có chữ A), một đầu của mỗi túi có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng nhiều viên nén màu hồng, màu xanh nghi là ma tuý tổng hợp; tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “QT”. Lèo Văn T4 khai số ma tuý trên vừa mua của Lò Văn H sinh năm 1997, nơi thường trú: Bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, hiện đang tạm trú và thuê phòng trọ số 07 nhà trọ của anh Nguyễn Đức C2 thuộc thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở là phòng trọ số 07 của Lò Văn H, thu giữ tại vị trí đầu giường ngủ trong phòng trọ:

- 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong chứa chất cục bột màu trắng; 01 (một) hộp nhựa có nắp màu vàng bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng đựng 04 (bốn) viên nén màu hồng và 01 (một) túi nilon màu trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen bên trong chứa chất cục bột màu trắng. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “KX”.

Ngoài ra, còn phát hiện, thu giữ tại mặt đất, gầm giường phòng trọ số 7 một số đồ vật, tài sản gồm: 01 cân tiểu ly màu xám; 02 ví giả da màu đen bên trong có: 01 thẻ ngân hàng V1 mang tên Lèo Văn T1; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lèo Văn T1; 01 giấy xác nhận đã tiêm Vacsxin Covid 19 tên Lèo Văn T1; 01 ví da màu nâu bên trong có: 01 giấy căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe hạng C; 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 thẻ ngân hàng MB đều mang tên Lò Văn H; 02 giấy xác nhận thông tin cư trú mang tên Lèo Văn T1 và Lèo Văn T4.

Tiến hành khám xét nơi ở tại phòng trọ số 1 của Lèo Văn T4 nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Căn cứ lời khai của Lò Văn H về nguồn gốc ma tuý mua của Giàng A G ở bản H, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, ngày 22/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Giàng A G, khi khám xét Gấu không có mặt (có Vừ Thị C1 là vợ Gấu ở nhà). Kết quả khám xét thu giữ 03 điện thoại di động các loại, chị C1 khai là điện thoại của G.

Tại Bản Kết luận giám định số 1352/K1-KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Các viên nén màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 04 (bốn) túi nilon một đầu có rãnh khoá bằng nhựa (trong đó có 03 (ba) túi màu xanh, viền màu đỏ và 01 (một) túi màu hồng, trên một mặt có chữ “A”) đều là ma tuý, có tổng khối lượng 75,133 gam, loại Methamphetamine.

- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX” đã được niêm phong gửi giám định:

  • + 04 (bốn) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) gói nilon màu trắng, được đựng trong 01 (một) hộp nhựa có nắp đậy màu vàng đều là ma tuý, có tổng khối lượng 0,384 gam, loại Methamphetamine
  • + Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng là ma tuý, có khối lượng 3,822 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
  • + Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói nilon (gói nilon gồm 03 (ba) lớp, ngoài cùng là hai lớp nilon màu trắng, tiếp đến là một lớp nilon màu hồng, bên ngoài gói nilon quấn băng dính màu đen) là ma tuý, có khối lượng 23,206 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX1” đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma tuý, loại H4 (H5) có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất trên 01 (một) cân tiểu li màu xám, không xác định được khối lượng”.

Ngày 19/7/2023, Lò Văn H và Đèo Văn T5, sinh năm 2003 trú tại: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La (hiện thuê trọ tại: Thôn T, xã Q, huyện V) đến Cơ quan điều tra xin đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý; H tự nguyện giao nộp số tiền 195.000 đồng và Đèo Văn T5 tự nguyện giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s màu trắng hồng, số Seri FFMSW09UGRY0; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu hồng, có số Imei1: 355043871465630; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Đèo Văn T5 và số tiền 660.000 đồng (BL: 454; 538-540). Ngày 26/7/2023, Lèo Văn T1 đến Cơ quan điều tra xin đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau:

Từ khoảng năm 2018, Lèo Văn T4 đến tỉnh Bắc Giang thuê ở tại phòng trọ số 01 của anh Nguyễn Đức C2 ở thôn T, xã Q, huyện V để làm thuê cho các công trình xây dựng. Khoảng tháng 5/2023 thì Lèo Văn T1 và Đèo Văn T5 đều là người cùng bản đến phòng trọ ở và đi làm cùng với T4. Khoảng đầu tháng 7/2023, Lò Văn H, sinh năm 1997 ở Bản P, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến thuê phòng trọ số 07 của anh C2, cùng dãy phòng trọ của T4. Quá trình ở khu nhà trọ, T4, T1 và T5 quen biết H nên T1 sang ở cùng phòng số 07 với H, còn T4 và T5 vẫn ở phòng số 01.

Do nghiện chất ma tuý nên H và T1 đã bàn nhau mua ma tuý về để sử dụng và bán kiếm lời. H liên hệ với Giàng A G, sinh năm 1988 trú tại bản Huổi Va B, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để mua ma tuý. Khi mua bán ma tuý, H chuyển tiền trước cho G qua tài khoản, sau đó G cất giấu ma tuý trong bao gạo loại 10kg rồi gửi xe khách từ tỉnh Điện Biên xuống Bắc Giang để H và T1 nhận đem về phòng trọ chia thành các gói nhỏ để bán. Ngoài ra, khi có khách gọi điện hỏi mua ma tuý thì H đưa ma tuý cho Đèo Văn T5 đem bán cho khách.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, H nhắn tin và gọi điện cho Giàng A G đặt mua 07 (bẩy) chỉ ma tuý Heroine. Lúc 08 giờ 20 phút ngày 17/7/2023, H ra cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1962 ở thôn T, xã Q, huyện V nhờ chuyển số tiền 10 triệu đồng cho G vào số tài khoản 0358830677 Ngân hàng M2 mang tên Vừ Thị C1 là vợ của G, hẹn khi nào nhận được ma tuý sẽ trả nốt số tiền còn lại. Đến khoảng 11 giờ ngày 17/7/2023, Lèo Văn T4 đang ở phòng trọ thì có người đàn ông tên H6 quen biết với T4 từ trước gọi điện cho T4 qua ứng dụng zalo hỏi mua 04 (bốn) túi ma tuý Hồng phiến (mỗi túi khoảng 200 viên), T4 đồng ý và bảo H6 đưa trước 09 triệu đồng. Một lúc sau, H6 đến phòng trọ đưa cho T4 09 triệu đồng, hẹn khi nào nhận được ma tuý thì trả nốt số tiền còn lại, rồi H6 đi về. Trấn đi sang phòng trọ số 07 gặp H hỏi mua 04 (bốn) túi ma tuý Hồng phiến, H đồng ý và thông báo giá 04 triệu đồng/ 01 túi, T4 đưa trước cho H 09 triệu đồng và hẹn khi nào nhận ma tuý thì sẽ trả nốt. H tiếp tục gọi điện cho G đặt mua thêm 04 (bốn) túi ma tuý Hồng phiến, G đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H ra cửa hàng cầm đồ ở thôn T, xã Q chuyển số tiền 09 triệu đồng cho G vào số tài khoản của vợ G là Vừ Thị C1. Sau đó, G thông báo cho H biết là để ma tuý trong bao gạo và gửi xe khách từ tỉnh Điện Biên xuống Bắc Giang để H nhận.

Khoảng 07 giờ ngày 18/7/2023, nhà xe gọi điện cho H bảo ra khu vực ngã ba T nhận hàng; H cùng T1 đi ra đón xe khách nhận bao gạo loại 10kg mang về phòng trọ; khi về qua phòng của T4, H thông báo cho T4 biết đã có “hàng” về. Trấn nhắn tin Z cho H6 thông báo đã có hàng (tức ma túy) và H6 hẹn 10 giờ 30 đến lấy ma túy trả nốt tiền cho T4. H đem bao gạo về phòng trọ thì T1 mở bao gạo và lấy ra 04 túi ma tuý Hồng phiến (gồm 03 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu hồng) và 01 túi nilon màu trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen, bên trong có 07 chỉ Heroine đưa cho H. H lấy ra 04 viên ma tuý hồng phiến và lấy một ít ma tuý Heroine cho vào túi nilon cất ở dưới chiếu phía đầu giường.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/7/2023, có số điện thoại 0971.617.xxx gọi điện cho H hỏi mua 200.000 đồng ma tuý Heroine, hẹn đem đến khu vực cầu vượt SamWang để giao dịch mua bán. H lấy gói ma tuý H4 giấu ở đầu giường chia ra 01 túi nilon nhỏ đưa cho T5 cùng chiếc điện thoại N1 màu hồng và bảo T5 mang ra khu vực cầu vượt SamWang để liên lạc bán ma tuý cho khách với giá 200.000 đồng. T5 cầm gói ma tuý, điện thoại đi ra khu vực cầu vượt Sam Wang gặp và bán cho một người đàn ông không quen biết, người này nhận ma tuý và đưa cho T5 195.000 đồng (do thiếu 5000 đồng nên xin), T5 cầm tiền về và đưa lại cho H.

Khoảng 10 giờ ngày 18/7/2023, có số điện thoại 0981.773.xxx gọi điện cho H hỏi mua 700.000 đồng tiền ma tuý Heroine và ma tuý hồng phiến, hẹn giao nhận ma tuý ở ngã ba T. H chia ma tuý Heroine và lấy 02 viên ma tuý hồng phiến cho vào 01 túi nilon nhỏ bảo T5 mang ra ngã ba Tam Tầng bán cho khách với giá 700.000 đồng. T5 cầm gói ma tuý và chiếc điện thoại Nokia màu hồng do H đưa đi đến ngã ba T thì gặp 02 người đàn ông không quen biết, T5 đưa gói ma tuý cho một người đàn ông và nhận số tiền 700.000 đồng.

Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, H6 đến khu nhà trọ gặp T4 thì được T4 dẫn vào phòng trọ của H. H đưa cho T4 04 túi nilon (03 túi màu xanh và 01 túi màu hồng) bên trong đựng các viên ma túy hồng phiến; T4 đưa 04 túi ma túy trên cho H6 thì H6 để ở dưới chiếu và lấy ra 02 viên ma túy ra để kiểm tra. Ngay sau đó, lực lượng Công an đến kiểm tra thì T4 cầm 04 túi ma túy cho vào túi quần phía sau bên phải đang mặc, còn H6 lợi dụng sơ hở đã bỏ chạy. Tổ công tác thu giữ 04 túi ma tuý do T4 cất giấu trong túi quần và tiến hành khám xét phòng trọ số 07, thu giữ toàn bộ số ma tuý do H cất giấu ở đầu giường.

Tiến hành kiểm tra điện thoại hiệu Nokia màu hồng, lắp sim thuê bao số 0357.378.003 và 0569.699.710 thu giữ của Lò Văn H thấy: Tại mục nhật ký cuộc gọi có thông tin cuộc gọi đi, cuộc gọi đến với “Trương sm”, số thuê bao 0326.000.637, H khai đây là số điện thoại của Đèo Văn T5; với “Tu”, số thuê bao 0368.320.003, H khai đây là số điện thoại của Lèo Văn T1; với “Tran S,M”, số thuê bao 0368.477.030, H khai đây là số điện thoại của Lèo Văn T4; với “Gau con”, số thuê bao 0378.362.851 và “Gau em” số thuê bao 0358.830.677, H khai đây là 02 số điện thoại của Giàng A G, H liên lạc để mua ma tuý.

Kiểm tra mục tin nhắn điện thoại hiệu Nokia màu hồng thu giữ của Lò Văn H và điện thoại hiệu TECNO SPAK thu giữ khi khám xét nơi ở của Giàng A G thấy có nhiều nội dung tin nhắn đi, đến giữa H với “Gau con” và “Gau em” các ngày 11, 16, 17,18/7/2023 nội dung liên quan đến việc mua bán, chuyển tiền. H khai đây là tin nhắn giữa H và G liên hệ mua bán ma tuý (BL: 323-354).

Tiến hành tra cứu tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Đức V, mở tại ngân hàng V2: Thời gian 8:20:40 ngày 17/7/2023 có chuyển số tiền 10 triệu đồng đến tài khoản số 0358830677 mang tên Vừ Thị C1 mở tại ngân hàng TMCP Q (BL: 412; 439,440).

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, quá trình điều tra vụ án, Lò Văn H và Lèo Văn T1 còn khai nhận về hành vi phạm tội trước đó như sau:

Khoảng ngày 08/7/2023, H đặt mua của Giàng A G hơn 02 (hai) chỉ ma tuý H4 với giá 4,5 triệu đồng, sau khi nhận ma tuý do G để trong bao gạo gửi xe khách xuống, H mang về phòng trọ chia thành các gói nhỏ rồi giao cho T1 bán lẻ cho khách hết. Ngày 12/7/2023, H đặt mua của G 04 (bốn) chỉ ma tuý Heroine, 06 (sáu) túi ma tuý H7 phiến và 10 (mười) viên ma tuý H7 phiến với giá 19,5 triệu đồng. Sau khi nhận được ma tuý, H đã bán cho Lường Văn O, sinh năm 2001, trú tại Bản Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên 08 viên ma tuý hồng phiến với giá 800.000 đồng. Số ma tuý còn lại H và T1 đã chia ra bán lẻ cho người khác và sử dụng hết. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh có người tên Lường Văn O ở địa chỉ trên, nhưng vắng mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của H và T1 về 02 lần mua bán ma tuý trên ra, không có tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với H và T1 về hành vi phạm tội này.

Buổi chiều và buổi tối 17/7/2023, Lò Văn H và Đèo Văn T6 còn cho: Đèo Văn T5, Lèo Văn T4, Lèo Văn T7, Đèo Văn B, Lò Văn M1 sử dụng ma tuý Heroine. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không thu giữ được những đồ vật dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý; các đối tượng khai về hành vi của H và T6 còn mâu thuẫn; hiện tại Lèo Văn T7, Đèo Văn B, Lò Văn M1 đều vắng mặt tại địa phương, không lấy được lời khai. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với H và T6 về hành vi này.

Về xử lý tài sản, vật chứng: Vật chứng là chất ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ những đồ vật, tài sản thu giữ trong vụ án được nhập kho vật chứng theo quy định.

Bản cáo trạng số 08/CT-VKSBG-P1 ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố: Bị cáo Lò Văn Hải, bị cáo Lèo Văn Tư về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lèo Văn T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đèo Văn T5 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều khai nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo như vậy là đúng hành vi của các bị cáo, không oan sai.

Người làm chứng - Đào Văn B1 khai được chứng kiến việc cơ quan điều tra bắt quả tang thu giữ ma túy của T4, không tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng các bị cáo Lò Văn H, Lèo Văn T1, Lèo Văn T4, Đèo Văn T5 vào ngày 17/7/2023.

Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh, mức hình phạt:

    • - Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/7/2023.
    • - Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn T2 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 26/7/2023.
    • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lèo Văn T4 từ 16 năm tù đến 16 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/7/2023.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đèo Văn T5 từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/7/2023.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

  2. Về xử lý vật chứng, tài sản đồ vật thu giữ: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "QT", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định là 70,021 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định gồm 0,329 gam loại Methamphetamine và 3,693 gam loại Heroine; 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX1", bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) cân tiểu ly màu xám; 01 (một) bao dứa.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
      • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, kiểu máy cảm ứng, IMEI 1: 865635045245716, IMEI 2: 865635045245708 của bị cáo Lèo Văn T4;
      • + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu hồng, đã qua sử dụng, số Seril: 355043871465630, Seri 2: 355043873465638 và số tiền 195.000đồng của bị cáo Lò Văn H.
    • - Trả lại bị cáo Đèo Văn T5: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng, kiểu máy cảm ứng, số IMEI: 355685071944044, đã qua sử dụng; 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Đèo Văn T5.
    • - Trả lại bị cáo Lèo Văn T1 01 (một) ví da màu đen, bên trong có: 01 thẻ Ngân hàng V1 tên LEO VAN TU, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 giấy xác nhận tiễm Covid-19.
    • - Trả lại bị cáo Lò Văn H 01 (một) ví da màu nâu bên trong có: 01 CCCD mang tên Lò Văn H; 01 giấy phép lái xe mang tên Lò Văn H; 01 thẻ Ngân hàng MB mang tên Lò Văn H.

Bị cáo Lèo Văn T4 phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, khối lượng ma túy là 75,133gam ma tuý Methamphetamine thuộc điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 15 năm đến 20 năm (khối lượng ma túy từ 30 gam đến dưới 100 gam). Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Như vậy, mức hình phạt Viện kiểm sát là phù hợp.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của một số người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có lời khai của họ. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với những người này.

[3] Về tội danh: Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 05 phút ngày 18/7/2023 và biên bản khám xét nơi ở của Lò Văn H lập hồi 12 giờ 50 phút ngày18/7/2023, Bản Kết luận giám định số 1352/K1-KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, lời khai của các bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định:

Do nghiện chất ma tuý nên bị cáo Lò Văn H, Lèo Văn T1 đã bàn nhau mua ma tuý về để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 16/7/2023, bị cáo H liên hệ với Giàng A G, sinh năm 1988 ở bản H, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đặt mua 07 (bẩy) chỉ ma tuý Heroine và 04 (bốn) túi ma tuý H7 phiến. Gấu để ma tuý trong bao gạo và gửi xe khách từ tỉnh Điện Biên xuống Bắc Giang để H nhận. Khoảng 07 giờ ngày 18/7/2023, H cùng T1 đi ra đón xe khách nhận bao gạo đựng ma tuý đem về phòng trọ. Sau khi nhận số ma túy nêu trên, buổi sáng ngày 18/7/2023, H đã 02 lần đưa ma tuý cho Đèo Văn T5 đi bán lẻ cho khách được số tiền lần lượt là 195.000đồng và 700.000đồng. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, H đưa cho Lèo Văn T4 75,133gam ma tuý Methamphetamine để bán cho khách thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Khám xét nơi ở của H thu giữ 0,384 gam ma tuý Methamphetamine và 27,028 gam ma tuý Heroine, mục đích để bán kiếm lời.

Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi mua bán trái phép ma túy, cất giấu ma túy để bán trái phép kiếm lời của các bị cáo đều thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Văn HLèo Văn T1 có hành vi mua bán 75.517gam ma tuý Methamphetamine và 27,028 gam ma tuý Heroine nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lèo Văn T4 có hành vi mua bán 75,133 gam ma tuý Methamphetamine nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đèo Văn T5 02 lần mua bán trái phép chất ma tuý giúp bị cáo Lò Văn H nhưng không xác định được khối lượng nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo theo điểm, khoản, điều luật trên là có căn cứ.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, bất an cho người dân. Ma tuý là tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến nhận thức, sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo vì vụ lợi đã cố ý phạm tội. Do đó, cần xử nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[5] Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo H là người trực tiếp liên hệ mua - bán ma túy, là người trực tiếp trả tiền mua ma túy nên có vai trò chính. Bị cáo T1, T4, T5 có vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo H trong việc mua bán ma túy trong đó bị cáo T1 có vai trò sau bị cáo H, tiếp đến là bị cáo T4, bị cáo T5 có vai trò sau cùng.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6.1] Bị cáo Lèo Văn T4, Đèo Văn T5 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6.2] Bị cáo Lò Văn H, Lèo Văn T1 đều phạm tội nhiều lần nên đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Văn H có tiền án chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm” nên bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Văn H có ông ngoại (Lò Văn Ú) được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Các bị cáo H, T1, T5 sau khi phạm tội ra đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về nhân thân các bị cáo: Theo cung cấp của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú thì: Bị cáo Lò Văn H có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, thường xuyên tiếp xúc với các đối tượng có biểu hiện phạm pháp hình sự trên địa bàn, đã bị xét xử về tội tàng trữ trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo Lèo Văn T1 chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy, có quan hệ phức tạp, thường tiếp xúc với các đối tượng có biểu hiện phạm pháp hình sự trên địa bàn, thường vắng mặt tại địa phương. Bị cáo Lèo Văn T4, bị cáo Đèo Văn T5 chưa có tiền án, tiền sự.

[9] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù giam, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian dài như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp để nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo. Bị cáo Lèo Văn T1 chỉ có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo Lèo Văn T4 phạm tội rất nghiêm trọng nên người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu là không phù hợp.

[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[11] Về xử lý vật chứng, tài sản đồ vật thu giữ:

[11.1] Đối với 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "QT", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định là 70,021 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định gồm 0,329 gam loại Methamphetamine và 3,693 gam loại Heroine; 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX1", bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly màu xám; 01 (một) bao dứa là vật nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11.3] Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, kiểu máy cảm ứng, IMEI 1: 865635045245716, IMEI 2: 865635045245708 thu của bị cáo T4; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu hồng, đã qua sử dụng,số Seril: 355043871465630, Seri 2: 355043873465638 thu của bị cáo H, các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11.4] Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng, kiểu máy cảm ứng, số IMEI: 355685071944044 đã qua sử dụng và 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Đèo Văn T5 thu của bị cáo T5; 01 ví da màu đen, bên trong có: 01 thẻ Ngân hàng V1 tên LEO VAN TU, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 giấy xác nhận tiễm Covid-19 thu của bị cáo Lèo Văn T1; 01 ví da màu nâu bên trong có: 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn H, 01 giấy phép lái xe mang tên Lò Văn H, 01 thẻ Ngân hàng MB mang tên Lò Văn H thu của bị cáo Lò Văn H là giấy tờ, đồ vật cá nhân, không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11.5] Đối với số tiền 855.000đồng (trong đó thu của bị cáo T5 là 660.000đồng, thu của bị cáo H là 195.000đồng) là tiền các bị cáo có được từ việc bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Các vấn đề khác:

[12.1] Về hành vi của bị cáo Lò Văn H mua của Giàng A G hơn 02 (hai) chỉ ma tuý Heroine với giá 4,5 triệu đồng vào ngày 08/7/2023 sau đó chia thành các gói nhỏ rồi giao cho bị cáo T1 bán lẻ cho khách và hành vi của Lò Văn H mua của G 04 (bốn) chỉ ma tuý Heroine, 06 (sáu) túi ma tuý H7 phiến và 10 (mười) viên ma tuý H7 phiến với giá 19,5 triệu đồng vào ngày 12/7/2023 sau đó đã bán cho Lường Văn O, sinh năm 2001, trú tại Bản Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên 08 viên ma tuý H7 phiến với giá 800.000 đồng. Số ma tuý còn lại HT1 đã chia ra bán lẻ cho người khác và sử dụng hết (theo lời khai của bị cáo H, bị cáo T1). Cơ quan điều tra tiến hành xác minh có người tên Lường Văn O ở địa chỉ trên, nhưng vắng mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của bị cáo H và bị cáo T1 về 02 lần mua bán ma tuý trên ra, không có tài liệu chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ xử lý đối với HT1, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ về hành vi này.

[12.2] Qúa trình điều tra bị cáo Lò Văn HĐèo Văn T6 còn khai có hành vi cho Đèo Văn T5, Lèo Văn T4, Lèo Văn T7, Đèo Văn B, Lò Văn M1 sử dụng ma tuý Heroine vào buổi chiều và buổi tối 17/7/2023. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không thu giữ được những đồ vật dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý; các đối tượng khai về hành vi của HT6 còn mâu thuẫn; hiện tại Lèo Văn T7, Lò Văn M1 đều vắng mặt tại địa phương, không lấy được lời khai. Do vậy, chưa đủ căn cứ xử lý đối với HT6 về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ về hành vi này.

[12.3] Đối với Giàng A G là người đã bán ma túy cho Lò Văn H, Lèo Văn T1, sau khi phạm tội Giàng A G đã trốn khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 258 ngày 05/02/2024 đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” của Giàng A G và vật chứng liên quan để tiếp tục điều tra.

[12.4] Đối với người đàn ông tên H6 là người mua ma tuý của bị cáo T4, khi Cơ quan điều tra bắt quả tang đã bỏ chạy thoát. Bị cáo T4 không biết nhân thân, lai lịch của H6 nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

[12.5] Ông Nguyễn Đức V làm dịch vụ chuyển tiền giúp bị cáo Lò Văn H cho Giàng A G qua tài khoản ngân hàng của Vừ Thị C1, nhưng ông V không biết mục đích để H mua ma tuý. Vừ Thị C1 khai có đưa căn cước công dân tên Vừ Thị C1 cho Giàng A G (là chồng) sau đó G mang đi đăng ký sim điện thoại và đăng ký tài khoản ngân hàng M2 mang tên Vừ Thị C1 nhưng C1 không biết. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[13]Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

[14]Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[15] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lò Văn H 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/7/2023.

  2. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự

    Xử phạt bị cáo Lèo Văn T1 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 26/7/2023.

  3. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự

    Xử phạt bị cáo Lèo Văn T4 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/7/2023.

  4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự

    Xử phạt bị cáo Đèo Văn T5 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/7/2023.

  5. Về xử lý vật chứng, tài sản đồ vật thu giữ: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "QT", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định là 70,021 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX", bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định gồm 0,329 gam loại Methamphetamine và 3,693 gam loại Heroine; 01 (một) Phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu "KX1", bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) cân tiểu ly màu xám; 01 (một) bao dứa.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
      • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, kiểu máy cảm ứng, IMEI 1: 865635045245716, IMEI 2: 865635045245708 của bị cáo Lèo Văn T4;
      • + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu hồng, đã qua sử dụng, số Seril: 355043871465630, Seri 2: 355043873465638 và số tiền 195.000đồng của bị cáo Lò Văn H.
    • - Trả lại bị cáo Đèo Văn T5: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng, kiểu máy cảm ứng, số IMEI: 355685071944044, đã qua sử dụng; 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Đèo Văn T5.
    • - Trả lại bị cáo Lèo Văn T1 01 (một) ví da màu đen, bên trong có: 01 thẻ Ngân hàng V1 tên LEO VAN TU, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 giấy xác nhận tiễm Covid-19.
    • - Trả lại bị cáo Lò Văn H 01 (một) ví da màu nâu bên trong có: 01 CCCD mang tên Lò Văn H, 01 giấy phép lái xe mang tên Lò Văn H, 01 thẻ Ngân hàng MB mang tên Lò Văn H.

    (Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS-P1 ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang)

  6. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

  7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT- CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger