|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 23/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Kim Phong và ông Lương Mạnh Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Quế - Kiểm sát viên.
Ngày 23/9/2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/10/1984 tại thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ G, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị D; có vợ là Lý Thị Thanh T1, có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2023 đến 08/8/2023 hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Thị N (Tên gọi khác: Trần Thị H), sinh ngày 11/12/1968 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Như T2 và bà Đào Thị Q (Đều đã chết); Có chồng là Nguyễn Văn M (Đã chết); Có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2023 đến 08/8/2023 hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Lãnh Thị G (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/4/1966 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 10/10; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lãnh Long T3 và bà Hà Thị M1 (Đều đã chết); Có chồng là Nguyễn Văn C (Đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 27/6/2023 hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Triệu Xuân H1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 28/8/1989 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn T4 và bà Vy Thị N1; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 27/6/2023 hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lý Thị Thanh T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ G, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- Bà Đặng Thị H2, sinh năm 1965, HKTT tại tổ H, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; tạm trú tại tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- Ông Phùng Văn T5, sinh năm 1997, trú tại tổ E, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 26/5/2023, phòng C6 Công an tỉnh B nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có nhiều đối tượng tại địa bàn thành phố B, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện hoạt động đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại di động. Sau khi nhận tin báo, hồi 18 giờ 45 phút cùng ngày Phòng C6 đã thành lập các tổ công tác phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành xác minh lập biên bản sự việc đối với các đối tượng có liên quan đến hành vi đánh bạc.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Hoàng Văn T, sinh năm 1984, trú tại tổ G, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Đặng Thị H2, sinh năm 1965, thường trú tại tổ H, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; tạm trú tại tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Trần Thị N, sinh năm 1968, trú tại tổ H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Hoàng Thị L, sinh năm 1968, trú tại tổ E, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về hành vi đánh bạc. Kết quả khám xét đã phát hiện, tạm giữ một số đồ vật, tài liệu, tài sản có liên quan đến hành vi đánh bạc và tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ hành vi của các đối tượng có liên quan.
* Về phương thức đánh bạc:
Các bị cáo và người tham gia đánh bạc đã thỏa thuận sử dụng điện thoại di động nhắn tin cho nhau để mua bán số lô, số đề. Sau khi bên bán nhận được tin nhắn thì sẽ nhắn tin trả lời lại là “Ok” thể hiện là đồng ý.
Hình thức đánh bạc thông qua mua bán số lô, số đề, có thể chọn những hình thức đánh là đề hoặc lô và các hình thức cụ thể sẽ có quy định tỷ lệ thắng, thua như sau:
- Đối với số đề: người mua chọn con số bất kỳ từ 00 đến 99, khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày thì đối chiếu, nếu số đã mua trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt thì là trúng đề, còn lại là không trúng. Nếu trúng đề thì người bán số đề phải trả thưởng cho người mua theo tỉ lệ 1 ăn 70 tức là trả thưởng số tiền 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng), nếu số trúng thưởng được người chơi mua với số tiền là 1.000đ (một nghìn đồng).
- Đối với số lô: người mua chọn con số bất kỳ từ 00 đến 99, khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày thì đối chiếu, nếu số đã mua trùng với hai chữ số cuối của bất kỳ giải nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì là trúng lô, còn lại là không trúng. Nếu trúng một điểm lô (tiền mua mỗi điểm lô do bên bán và bên mua tự thỏa thuận) thì người bán số lô phải trả thưởng cho người mua là 80.000đ (tám mươi nghìn đồng).
Tất cả các hình thức đánh lô, đề nếu không trúng thưởng thì người mua phải trả toàn bộ số tiền đánh cho người bán số lô, số đề; trường hợp nào được chiết khấu tiền mua các số đề thì người mua phải trả toàn bộ số tiền thực tế sau khi đã trừ tiền % được chiết khấu từ số tiền đánh cho người bán các số đề.
Quá trình điều tra đối với các bị cáo xác định được như sau:
1. Đối với hành vi mua bán số lô, số đề của Hoàng Văn T với Trần Thị N (tên gọi khác Trần Thị H), Triệu Xuân H1.
* Hoàng Văn T bán các số lô, số đề cho Trần Thị N:
Do có quen biết với nhau, Hoàng Văn T và Trần Thị N đã trao đổi, thống nhất với nhau về việc mua bán số lô, số đề. Sau đó, hàng ngày Hoàng Văn T sử dụng số điện thoại di động 0394.902.xxx nhận tin nhắn từ số điện thoại di động 0382.985.xxx của bị cáo Trần Thị N để mua bán các số lô, số đề với nhau, cụ thể như sau:
Ngày 26/5/2023 T bán nhiều số lô, số đề cho Trần Thị N với tổng số tiền là 24.020.000đ (hai mươi bốn triệu không trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó: số tiền bán số đề là 15.220.000đ (mười lăm triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng);số tiền bán số lô là 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi có kết quả xổ số Trần Thị Na trúng thưởng với tổng số tiền là 14.300.000đ (mười bốn triệu ba trăm nghìn đồng), Trong đó, trúng số đề 91 = 90.000₫ x 70.000₫ bằng số tiền là 6.300.000₫ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng); trúng số lô 91 = 100 điểm x 80.000₫ bằng số tiền là 8.000.000₫ (tám triệu đồng)
Tổng số tiền T đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) với Trần Thị N trong ngày 26/5/2023 là 38.320.000₫ (ba mươi tám triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
* Hoàng Văn T bán các số lô, số đề cho Triệu Xuân H1:
Do có mối quan hệ xã hội quen biết với nhau, Triệu Xuân H1 đã đặt vấn đề mua các số lô, số đề với bị cáo T và được T đồng ý. Sau đó, hàng ngày bị cáo Hoàng Văn T sử dụng tài khoản facebook "Thai Hoang V” nhắn tin với tài khoản facebook “Huấn Triệu” của bị cáo Triệu Xuân H1 qua ứng dụng messenger facebook để bán các số lô, số đề cho bị cáo H1.
Ngày 26/5/2023 T tổ chức đánh bạc với bị cáo H1 với tổng số tiền là 5.800.000₫ (năm triệu tám trăm nghìn đồng), gồm: tiền mua bán các số đề là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), không trúng số đề); mua bán 100 (một trăm) điểm lô (23.000 đồng/điểm) tương ứng số tiền 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm ngìn đồng), trúng số lô 95, 20 = 40 (bốn mươi) điểm x 80.000₫ bằng số tiền 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền bị cáo Hoàng Văn T đánh bạc với Trần Thị N và Triệu Xuân H1 (gồm cả tiền chơi và tiền trúng thưởng) trong ngày 26/5/2023 là 44.120.000₫ (bốn mươi bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Sau khi nhận các tin nhắn mua các số lô, số đề của H1, N thì T chuyển toàn bộ các số lô, số đề cho một người đàn ông không biết lai lịch chỉ biết tên D1 sử dụng số điện thoại 0852.077.xxx và 0862.255.562 cùng tài khoản Ngân hàng TMCP H5 số 24086011120762 mang tên “PHAM PHU DUNG”, nhà ở thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Ngoài ngày 26/5/2023, bị cáo Hoàng Văn T có 13 (mười ba) ngày nhận tin nhắn bán số lô, số đề với bị cáo Triệu Xuân H1 với tổng số tiền đánh bạc là 38.900.000₫ (ba mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng), cụ thể:
- Ngày 13/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng), trong đó số tiền đánh là 1.300.000đ và tiền trúng thưởng số lô 03, 12 = 20 điểm x 80.000đ = 1.600.000₫
- Ngày 14/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng), trong đó số tiền đánh là 1.200.000đ và tiền trúng thưởng số lô 53 = 20 điểm x 80.000₫ = 1.600.000₫
- Ngày 15/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng); trong đó số tiền đánh là 1.500.000đ và tiền trúng thưởng số lô 58 = 10 điểm x 80.000₫ = 800.000₫
- Ngày 16/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), không trúng thưởng
- Ngày 17/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng), không trúng thưởng.
- Ngày 18/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 2.850.000đ (hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó số tiền đánh là 1.250.000đ và tiền trúng thưởng số lô 27, 37 = 20 điểm x 80.000đ = 1.600.000₫
- Ngày 19/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 3.000.000đ (ba triệu đồng) không trúng thưởng.
- Ngày 20/5/2023 T đánh bạc với H1 với tổng số tiền: 5.700.000₫ (năm triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm: tổng số tiền bán các số đề là 200.000 đồng (không trúng số); bán 100 (một trăm) điểm lô (23.000 đồng/điểm) tương ứng số tiền 2.300.000 đồng, H1 trúng số lô 79, 34 = 40 (bốn mươi) điểm x 80.000 tương ứng số tiền 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng).
- Ngày 21/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 1.150.000đ (một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), không trúng thưởng.
- Ngày 22/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 1.950.000đ (một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó số tiền đánh là 1.150.000đ và tiền trúng thưởng số lô 65 = 10 điểm x 80.000₫ = 800.000₫
- Ngày 23/5/2023: tổng số tiền đánh bạc là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), không trúng thưởng.
- Ngày 24/5/2023 T đánh bạc với H1 tổng số tiền là: 5.700.000đ (năm triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm: tiền bán các số đề là 400.000 đồng, trúng số đề 66 = 20.000₫ x 70.000₫ bằng số tiền 1.400.000 đồng); bán 100 (một trăm) điểm lô (23.000 đồng/điểm) tương ứng số tiền 2.300.000 đồng, trúng số lô 64 = 20 (hai mươi) điểm x 80.000₫ bằng số tiền 1.600.000 đồng).
- Ngày 25/5/2023 T đánh bạc với H1 tổng số tiền là: 7.250.000đ (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), gồm: tiền bán các số đề là 150.000 đồng (không trúng); bán 100 (một trăm) điểm lô (23.000 đồng/điểm) tương ứng số tiền 2.300.000 đồng, trúng số lô 84 = 60 (sáu mươi) điểm x 80.000₫ bằng số tiền 4.800.000 (bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
Hành vi bán số lô, số đề cho Trần Thị N và Triệu Xuân H1 và nhận tiền rồi chuyển cho người đàn ông tên D1, mục đích là hưởng tiền hoa hồng theo thỏa thuận với D1. Khi trúng thưởng T nhận tiền từ D1 rồi trả thưởng cho N, H1 theo tỷ lệ thỏa thuận. Ngày 26/5/2023 tổng số tiền đánh bạc của T với N và H1 là 44.120.000đ (bốn mươi bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) và hành vi Hoàng Văn T bán số lô, số đề các ngày 20/5/2023, 24/5/2023, 25/5/2023 cho H1 rồi chuyển cho người đàn ông tên D1 đều trên 5.000.000₫ đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự.
- * Hành vi đánh bạc của bị cáo Triệu Xuân H1 các ngày 20/5/2023, 24/5/2023, 25/5/2023, 26/5/2023 với Hoàng Văn T đều trên 5.000.000₫ đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự
- * Hành vi đánh bạc của bị cáo Trần Thị N ngày 26/5/2023 với Hoàng Văn T, số tiền là 38.320.000₫ (ba mươi tám triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự
2. Đối với hành vi mua bán số đề của bị cáo Trần Thị N với Lãnh Thị G
Do có mối quan hệ quen biết với nhau, Lãnh Thị G đã đặt vấn đề mua các số đề với bị cáo N. Sau khi được N đồng ý, hàng ngày bị cáo N sử dụng số điện thoại di động 0382.985.xxx nhắn tin với số điện thoại di động 0973.953.xxx của Lãnh Thị G để bán các số đề cho bị cáo G, cụ thể:
Ngày 23/5/2023 Trần Thị N đánh bạc với Lãnh Thị G với tổng số tiền là: 7.970.000đ (bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng), gồm: tiền mua bán nhiêu số đề là 7.970.000 đồng, G không trúng số.
Ngày 24/5/2023 Trần Thị N đánh bạc với Lãnh Thị G với tổng số tiền là: 18.750.000đ (mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), gồm: tiền mua bán nhiều số đề là 9.650.000 đồng, G trúng số 66 = 130.000 ₫ x 70.000₫ bằng số tiền 9.100.000 đồng.
Ngày 25/5/2023, Trần Thị Na b nhiều số đề cho Lãnh Thị G, tổng số tiền là 8.960.000 đồng, G trúng số đề 19 = 280.000₫ x 70.000₫ bằng số tiền 19.600.000 đồng (mười chín sáu trăm nghìn đồng). Tổng số tiền là 28.560.000₫ (hai mươi tám triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng)
Sau đó Trần Thị N tổng hợp rồi chuyển đến số điện thoại di động 0522.460.xxx của Đặng Thị H2, sinh năm 1965, đăng ký HKTT tại tổ H, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; tạm trú tại tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Mục đích là để hưởng tiền hoa hồng theo thỏa thuận.
Hành vi bán số đề cho Lãnh Thị G và nhận tiền rồi chuyển cho Đặng Thị H2, mục đích là hưởng tiền hoa hồng theo thỏa thuận với H2. Khi trúng thưởng N nhận tiền từ H2 rồi trả thưởng cho G theo tỷ lệ thỏa thuận. Ngày 25/5/2023 tổng số tiền đánh bạc của N với G là 28.560.000đ (hai mươi tám triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng), và các ngày 23/5/2023, 24/5/2023, 26/5/2023 Na bán số đề cho Lãnh Thị G rồi chuyển cho Đặng Thị H2 đều trên 5.000.000đ, hành vi của Trần Thị N đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự.
Hành vi đánh bạc của bị cáo Lãnh Thị G các ngày 23/5/2023, 24/5/2023, 25/5/2023, 26/5/2023 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự
Các số đề, số lô cụ thể các bị cáo mua bán được thống kê tại phụ lục kèm theo kết luận điều tra.
* Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc với nhau và lợi nhuận được hưởng
- Đối với việc mua bán số lô, số đề giữa bị cáo Hoàng Văn T với bị cáo Trần Thị N vào ngày 26/5/2023:
Tiền mua bán số lô, số đề: tiền mua bán số đề là 15.220.000đ (mười lăm triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng). T chiết khấu cho Na 27% nên số tiền thực tế là 11.110.600đ (mười một triệu một trăm mười nghìn sáu trăm đồng); tiền mua bán số lô là 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng), mỗi điểm lô T bán cho N với giá 22.000đ (hai mươi hai nghìn đồng). Tổng số tiền T và N mua bán số lô, số đề với nhau là 24.020.000đ (hai mươi bốn triệu không trăm hai mươi nghìn đồng); tổng số tiền trên thực tế N phải trả cho T là 19.910.600₫ (mười chín triệu chín trăm mười nghìn sáu trăm đồng).
Tiền trúng thưởng: tiền trúng thưởng đề là 6.300.000đ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng); tiền trúng thưởng lô là 8.000.000đ (tám triệu đồng). Tổng số tiền trúng trưởng lô, đề là 14.300.000đ (mười bốn triệu ba trăm nghìn đồng).
Do số tiền N bỏ ra mua các số lô, số đề nhiều hơn số tiền trúng thưởng, do vậy T được hưởng lợi số tiền là: 19.910.600₫ – 14.300.000₫ = 5.610.600đ (năm triệu sáu trăm mười nghìn sáu trăm đồng).
Ngày 26/5/2023, sau khi có kết quả xổ số miền B thì hành vi đánh bạc của Hoàng Văn T và Trần Thị N mới bị phát hiện nhưng do hai bị cáo đều chưa thanh toán tiền cho nhau nên thực tế bị cáo T chưa được hưởng lợi từ việc đánh bạc.
- Đối với việc mua bán số lô, số đề giữa bị cáo Hoàng Văn T với bị cáo Triệu Xuân H1 vào các ngày: 20/5/2023, 24/5/2023, 25/5/2023, 26/5/2023:
Ngày 20/5/2023:
- Tiền mua bán các số lô, số đề: tiền mua bán các số đề là 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng); tiền mua bán các số lô là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền mua bán các số lô, số đề là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Tiền trúng thưởng: Huấn không trúng thưởng đề; trúng thưởng 40 (bốn mươi) điểm lô tương ứng số tiền 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng).
Do số tiền H1 trúng thưởng nhiều hơn số tiền H1 bỏ ra mua các số lô, số đề, do vậy H1 được hưởng lợi số tiền là: 3.200.000₫ – 2.300.000₫ = 900.000₫ (chín trăm nghìn đồng).
Ngày 24/5/2023:
- Tiền mua bán các số lô, số đề: tiền mua bán các số đề là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng); tiền mua bán các số lô là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền mua bán các số lô, số đề là 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Tiền trúng thưởng: Huấn trúng thưởng 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) tiền đề tương ứng số tiền 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng); trúng thưởng 20 (hai mươi) điểm lô tương ứng số tiền 1.600.000₫ (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Tổng số tiền trúng thưởng lô, đề là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Do số tiền H1 trúng thưởng nhiều hơn số tiền H1 bỏ ra mua các số lô, số đề, do vậy H1 được hưởng lợi số tiền là: 3.000.000₫ – 2.700.000₫ = 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng).
Ngày 25/5/2023:
- Tiền mua bán các số lô, số đề: tiền mua bán các số đề là 150.000₫ (một trăm năm mươi nghìn đồng); tiền mua bán các số lô là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền mua bán các số lô, số đề là 2.450.000đ (hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
- Tiền trúng thưởng: Huấn không trúng thưởng đề, trúng thưởng 60 (sáu mươi) điểm lô tương ứng số tiền 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
Do số tiền H1 trúng thưởng nhiều hơn số tiền H1 bỏ ra mua các số lô, số đề, do vậy H1 được hưởng lợi số tiền là: 4.800.000₫ – 2.450.000₫ = 2.350.000₫ (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngày 26/5/2023:
- Tiền mua bán các số lô, số đề: tiền mua bán các số đề là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng); tiền mua bán các số lô là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền mua bán các số lô, số đề là 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Tiền trúng thưởng: Huấn không trúng thưởng đề, trúng thưởng 40 (bốn mươi) điểm lô tương ứng số tiền 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng).
Do số tiền H1 trúng thưởng nhiều hơn số tiền H1 bỏ ra mua các số lô, số đề, do vậy H1 được hưởng lợi số tiền là: 3.200.000₫ – 2.600.000₫ = 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng).
Toàn bộ các ngày: 20/5/2023, 24/5/2023, 25/5/2023, 26/5/2023 bị cáo Hoàng Văn T và Triệu Xuân H1 đều chưa thanh toán tiền mua bán các số lô, số đề và tiền thắng thua cho nhau nên thực tế bị cáo H1 chưa được hưởng lợi từ việc đánh bạc.
- Đối với việc mua bán số đề giữa bị cáo Trần Thị N với bị cáo Lãnh Thị G vào các ngày: 23/5/2023, 24/5/2023, 25/5/2023, 26/5/2023:
Ngày 23/5/2023:
- Tiền mua số đề: 7.970.000đ (bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng). Na chiết khấu cho G 27% nên số tiền thực tế G phải trả cho N là 5.818.100₫ (năm triệu tám trăm mười tám nghìn một trăm đồng).
- Tiền trúng thưởng: Không.
Do G không trúng thưởng nên Trần Thị N được hưởng lợi số tiền là: 5.818.100đ (năm triệu tám trăm mười tám nghìn một trăm đồng).
Ngày 24/5/2023:
- Tiền mua số đề: 9.650.000đ (chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Na chiết khấu cho G 27% nên số tiền thực tế G phải trả cho N là 7.044.500₫ (bảy triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm đồng).
- Tiền trúng thưởng: G trúng thưởng 130.000đ (một trăm ba mươi nghìn đồng) tiền đề tương ứng số tiền 9.100.000đ (chín triệu một trăm nghìn đồng).
Do số tiền G trúng thưởng nhiều hơn số tiền thực tế G bỏ ra mua số đề nên G được hưởng lợi số tiền là: 9.100.000₫ – 7.044.500₫ = 2.055.500đ (hai triệu không trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng).
Ngày 25/5/2023:
- Tiền mua số đề: 8.960.000đ (tám triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng). Na chiết khấu cho G 27% nên số tiền thực tế G phải trả cho N là 6.540.800₫ sáu triệu năm trăm bốn mươi nghìn tám trăm đồng).
- Tiền trúng thưởng: G trúng thưởng 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng) tiền đề tương ứng số tiền 19.600.000đ (mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
Do số tiền G trúng thưởng nhiều hơn số tiền thực tế G bỏ ra mua số đề nên G được hưởng lợi số tiền là: 19.600.000₫ – 6.540.800₫ = 13.059.200đ (mười ba triệu không trăm năm mươi chín nghìn hai trăm đồng).
Ngày 26/5/2023:
- Tiền mua số đề: 8.810.000đ (tám triệu tám trăm mười nghìn đồng). Na chiết khấu cho G 27% nên số tiền thực tế G phải trả cho N là 6.431.300đ (sáu triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn ba trăm đồng).
- Tiền trúng thưởng: G trúng thưởng 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) tiền đề tương ứng số tiền 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng).
Do số tiền G trúng thưởng ít hơn số tiền thực tế G bỏ ra mua số đề nên Trần Thị N được hưởng lợi số tiền là: 6.431.300₫ – 2.100.000₫ = 4.331.300₫ (bốn triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn ba trăm đồng).
Toàn bộ các lần đánh bạc vào các ngày 23/5/2023, 24/5/2023, 25/5/2023 thì bị cáo Trần Thị N và bị cáo Lãnh Thị G đã thanh toán tiền mua bán các số đề và tiền thắng thua cho nhau. Còn đối với lần đánh bạc vào ngày 26/5/2023, sau khi có kết quả xổ số miền B thì hành vi đánh bạc của Trần Thị N và Lãnh Thị G bị phát hiện nên chưa thanh toán tiền cho nhau, bị cáo N chưa được hưởng lợi từ việc đánh bạc.
Cơ quan điều tra đã tiến hành mở, kiểm tra điện thoại của các bị cáo và các đối tượng liên quan để xác định rõ hành vi đánh bạc và Quyết định trưng cầu giám định điện thoại của các bị cáo và người có liên quan theo quy định.
Kết luận giám định số 1478/KL-KTHS ngày 28/5/2023 của Phòng C6 Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại Trần Thị Na .
Kết luận giám định số 2273/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng C6 Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại Hoàng Văn T.
Kết luận giám định số 2274/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng C6 Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại Triệu Xuân H1.
Kết luận giám định số 2279/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng C6 Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại Trần Thị Na .
Kết luận giám định số 2268/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng C6 Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại Lãnh Thị G.
Kết luận giám định số 2774/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của Phòng C6 Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại Đặng Thị H2.
Quá trình điều tra, các bị cáo Hoàng Văn T, Trần Thị N (tên gọi khác Trần Thị H), Triệu Xuân H1, Lãnh Thị G đã thành khẩn khai nhận hành vi của bản thân, lời khai của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 17/CT-VKSBK-P1 ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thị N (tên gọi khác: Trần Thị H) phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lãnh Thị G, Triệu Xuân H1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Điều 321 Bộ luật Hình sự có nội dung:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Điều 322 Bộ luật Hình sự có nội dung:
“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo.
* Về trách nhiệm hình sự:
Đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Thị N (tên gọi khác: Trần Thị H) phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lãnh Thị G, Triệu Xuân H1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 BLHS; khoản 1, 4 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị N từ 03 đến 06 tháng tù về tội đánh bạc; từ 09 đến 12 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Phạt bổ sung từ 20 đến 30 triệu đồng.
Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt chung của hai tội đề nghị xử phạt bị cáo N từ 12 đến 18 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1, 4 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 36 tháng
Phạt bổ sung 20.000.000₫ đến 30.000.0000₫
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Lãnh Thị G từ 50.000.000₫ đến 70.000.000₫
- Áp dụng khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Xuân H1 từ 50.000.000đ đến 70.000.000₫
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106/BLTTHS 2015:
- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0394.902.xxx (tạm giữ của Hoàng Văn T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0979.486.xxx (tạm giữ của Hoàng Văn T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J4, màu đen, màn hình cảm ứng, màn hình bên phải bị nứt vỡ một phần, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim chưa xác định số điện thoại (tạm giữ của Hoàng Văn T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Promax, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0984.194.xxx (tạm giữ của Triệu Xuân H1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A04, màu hồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0363.728.xxx (tạm giữ của Trần Thị N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7, màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0382.985.xxx (tạm giữ của Trần Thị N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A50, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0915.515.xxx (tạm giữ của Trần Thị N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A04, màu xanh dương, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0973.953.xxx (tạm giữ của Lãnh Thị G).
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo G 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A73, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0912.748.xxx (tạm giữ của Lãnh Thị G);
- Chuyển lưu theo HSVA các giấy tờ liên quan hành vi đánh bạc: 01 quyển vở ô ly nhãn hiệu Hải Tiến (tạm giữ của Hoàng Văn T); 01 quyển sổ hình chữ nhật, dưới góc phải ngoài bìa có dòng chữ “SỐ QUÀ TẶNG GIFT A6/200TR" (tạm giữ của Hoàng Văn T); 01 quyển sổ hình chữ nhật, dưới góc phải ngoài bìa có dòng chữ “Reward 320 trang MS3347” (tạm giữ của Hoàng Văn T); 01 quyển sổ hình chữ nhật, ngoài bìa có dòng chữ “Composition Book A4 Ms:899" (tạm giữ của Hoàng Văn T); 03 tờ giấy A4 có các dòng kẻ có nhiều chữ và số viết tay (tạm giữ của Hoàng Văn T); 01 tờ giấy đôi có các dòng kẻ ô ly, có nhiều chữ và số viết tay (tạm giữ của Hoàng Văn T);
- Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi nhãn hiệu deli, màu xám đen, mực màu đen (tạm giữ của Hoàng Văn T).
- Tạm giữ số tiền 27.050.000đ (hai mươi bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Hoàng Văn T để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.
- Tạm giữ số tiền: 2.000.000đ (hai triệu đồng) tạm giữ của bị cáo Trần Thị N và số tiền 10.000.000₫ bị cáo N nộp tại Cục THADS tỉnh để đảm bảo thi hành án cho bị cáo N. Tạm giữ số tiền: 10.000.000đ bị cáo Lãnh Thị G nộp tại Cục THADS tỉnh để đảm bảo thi hành án cho bị cáo G.
- Tiếp tục phong tỏa tài khoản 39510000327521 của Trần Thị N tại ngân H6 chi nhánh tỉnh Bắc Kạn, số tiền 1.962.389 đồng (một triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn, ba trăm tám mươi chín đồng) để đảm bảo thi hành án.
- Tiếp tục phong tỏa tài khoản 109867513106 của Hoàng Văn T tại N6 chi nhánh tỉnh Bắc Kạn, số tiền 37.720.340đ (ba mươi bẩy triệu, bẩy trăm hai mươi nghìn ba trăm bốn mươi đồng) để đảm bảo thi hành án.
* Truy thu số tiền đối với các bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.;
Truy thu bị cáo Hoàng Văn T số tiền 24. 180.000đ (Hai mươi tư triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng).
Truy thu bị cáo Trần Thị Na s tiền: 52.720.000đ (Năm mươi hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Truy thu bị cáo Triệu Xuân H1 số tiền đánh bạc: 10.250.000₫ (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Truy thu bị cáo Lãnh Thị G số tiền đánh bạc: 26.580.000₫ (Hai mươi sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).
- Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn T, Trần Thị N, Triệu Xuân H1, Lãnh Thị G mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT 1;
- TAND Cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh;
- Trại tạm giam Công an tỉnh;
- Phòng Hình sự Công an tình;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh;
- Cục THADS tỉnh;
- Sở Tư pháp;
- THAHS;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS;
|
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Quang Huy |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
