|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày: 21 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
- Các Hội thẩm nhân dân 1. Ông Nguyễn Tất Dũng
2. Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Thành– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Nhà Văn hóa xóm L1, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo: Họ và tên: Âu Văn T (tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/8/1975.Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Âu T, sinh năm 1944 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1948. Trú tại: Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Vợ: Nông Thị X, sinh năm 1978; có 02 con chung, (Con lớn sinh năm 1997; Con nhỏ sinh năm 2000); Gia đình có có 03 anh em, bị can là con thứ 01 trong gia đình.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Tại Quyết định số 234/QĐ-UBND ngày 13/5/2021 của Uỷ ban nhân dân xã L, huyện V, quyết định: Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 13/8/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
(Có mặt tại phiên tòa).
2. Người chứng kiến: Ông Phạm Văn G, sinh năm 1965; (Vắng mặt.) Nơi cư trú: Tổ dân phố số B, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn S, huyện Đ tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện 01 người đàn ông đang đi bộ trên đường, có biểu hiện liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã tiếp cận, yêu cầu kiểm tra. Người đàn ông nay chấp hành và khai nhận tên là Âu Văn T đồng thời tự giác lấy từ trong túi áo khoác ngoài bên trái mình đang mặc ra 01 gói nhỏ bằng túi nilon màu đen, lớp trong là giấy màu trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng (T khai là H) giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ, niêm phong gói nhỏ chứa chất bột màu trắng trên.
Hồi 13 giờ15 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Âu Văn T, kết quả: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của T là 2,398 gam (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định).
Tại bản Kết luận giám định số 545/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng là 2,398 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Âu Văn T khai nhận: Bản thân hiện đang làm công nhân thời vụ của Công ty S tại thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình làm việc tại Công ty, T có quen biết với một người đàn ông khoảng 50 tuổi tự giới thiệu tên là Đ (không biết địa chỉ cụ thể), Đ thường xuyên ngồi uống nước tại các quán nước gần cổng Công ty S. Qua nói chuyện T biết Đ cũng là người nghiện chất ma túy giống mình. Khoảng 20 giờ ngày 16/4/2024, T có gặp Đ ở cổng Công ty và Đ nhờ T mua hộ 4.000.000 đồng tiền ma túy Heroine và hứa sau khi mua được sẽ trả công cho T 1.000.000 đồng. Do T biết tại khu vực tổ F, thị trấn S, huyện Đ thường xuyên có người đến bán Heroine nên T đã đồng ý. Đến khoảng 6 giờ ngày 17/4/2024 sau khi làm ca đêm tại Công ty xong, T gặp Đ ở cổng Công ty và Đ đã đưa cho T 4.000.000 đồng. T cầm tiền cất vào trong người rồi đi lên xe đưa đón công nhân của Công ty về đến khu vực cầu Đ thuộc xóm Đ, xã Q, huyện Đ thì xuống xe và đi bộ vào khu vực tổ F, thị trấn S để tìm mua Heroine. Tại đây, T gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) và hỏi mua được của người này 01 gói Heroine với giá 4.000.000 đồng. Mua được H, T cất giấu vào túi áo và đi bộ ra khu vực cầu Đ để nhờ xe về nhà rồi lấy xe máy đi giao ma túy cho người đàn ông ở cổng Công ty SAMSUNG như đã hẹn. Khi T đi đến đoạn đường thuộc tổ F, thị trấn S thì bị tổ Công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án: 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 và LK. Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 41 /CT-VKSÐ, ngày 04/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Âu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Âu Văn T phạm tội“ Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bÞ c¸o Âu Văn T tõ 42 đến 48 tháng tï.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đi làm thuê, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự: + Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 và LK.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Âu Văn T phải chịu 200.000đ đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo thấy mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nên bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của vị đại diện Viện Kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Âu Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Âu Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực thuộc Tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Âu Văn T đang có hành vi tàng trữ 2, 398 gam Heroine để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện chất ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị L có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để bị cáo thấy được sự nghiêm khắc của pháp luật, biết tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cất giữ ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên với đề xuất về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là chưa có tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[4]. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:
+ Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1, LK (bên trong có chứa Heroine còn lại sau giám định) là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc Heroine bị cáo khai mua của 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) và 01 người đàn ông khoảng 50 tuổi tự giới thiệu tên là Đ nhờ T mua hộ Heroine, do T không xác định được Họ tên, lai lịch, địa chỉ cụ thể của những người đàn ông đó nên Cơ quan cảnh sát Công an huyện Đ không đủ cơ sở để điều tra, làm rõ là đúng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 251 ; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Tuyên bố: Bị cáo Âu Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Âu Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.
- Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Âu Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
*Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Âu Văn T 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nộp vào Ngân sách Nhà nước.
-
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- + 01( một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, bên trong có 2,360 gam Heroine và vỏ phong bì có ký hiệu A1.
- + 01( một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu LK, bên trong có 01(một) mảnh túi nilon mầu đen cùng mảnh giấy mầu trắng có dòng kẻ và 01(một) vỏ phong bì ký hiệu QT.
(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2024 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
-
Án phí: Buộc bị cáo Âu Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo Âu Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực thuộc Tổ F, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Âu Văn T đang có hành vi tàng trữ 2, 398 gam Heroine để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
