|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST
Ngày 14 tháng 5 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Vượng
Ông Nguyễn Danh Long
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà:
Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14/5/2024, Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2024 bằng hình thức trực tuyến giữa: điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương với điểm cầu thành phần tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung T, sinh ngày 15/5/1997, tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mộng Đ (Đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1966; vợ, con: chưa có.
Tiền án: Không có;
Tiền sự: Ngày 11/01/2024, Công an xã T, huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trung T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Mức phạt 1.500.000đ (T chưa nộp phạt).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Phan Long Q, sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Anh Đỗ Thái H, sinh năm: 1989; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi tạm trú và nơi ở: Tổ H, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa;
- Ông Phan Văn Q1, sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên toà;
- Ông Phạm Văn H1, sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà,
- Anh Phạm Văn H2, sinh năm: 1984; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà;
- Người làm chứng:
- Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa,
- Anh Nguyễn Thanh Q2, sinh năm: 2003; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa,
- Chị Trần Thị Thu P, sinh năm: 2002; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 09/02/2024, Nguyễn Trung T cùng anh Nguyễn Thành Đ1 (SN: 1997, em trai T) và anh Mông Thế V (SN: 2001) đều trú tại thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đến nhà ông Trần Văn T1 chơi, ngồi nói chuyện với bà Mông Thị T2 (SN: 1982, vợ ông T1), chị Trần Thị Thu P (con gái ông T1) và anh Nguyễn Thanh Q2 (bạn chị P). Quá trình ngồi chơi, nói chuyện, Nguyễn Trung T cầm tay chị P để kéo ngồi xuống chiếu thì chị P giằng tay ra và nói “em lớn rồi, anh đừng trêu em như thế”. Thấy thế, anh Q2 nói “anh đừng cầm tay bạn em như thế” thì T đứng trước mặt anh Q2, cách anh Q2 khoảng 50cm và vung tay phải tát một phát trúng vào mặt bên trái của anh Q2. Lúc này ông Trần Văn T1 can ngăn, kéo Nguyễn Trung T ra sân và bảo đi về, T không về. Thấy thế anh V, anh Đ1 căn ngăn và giằng co với Nguyễn Trung T. Sau đó gia đình ông T đã gọi điện báo Công an xã đến giải quyết.
Nhận được tin báo, anh Đỗ Thái H- Trưởng Công an xã T căn cứ Kế hoạch số 01/KH-CAX-QSX ngày 23/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã T về việc trực, tuần tra vũ trang, bảo đảm ANTT trước, trong và sau Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 trên địa bàn xã T đã phân công Tổ công tác gồm các ông: Nguyễn Phan Long Q- Phó trưởng Công an xã T, Trần Thành C1- Công an viên xã T, Phan Văn Q1- Công an viên thôn Đ, Phạm Văn H1- Công an viên thôn Đ đến gia đình ông Trần Văn T1 giải quyết vụ việc.
Khoảng 05 phút sau, Tổ công tác do ông Nguyễn Phan Long Q làm tổ trưởng (mặc trang phục đúng quy định) đến. Lúc này, Nguyễn Trung T đang đánh, chửi nhau với những người có mặt tại nhà ông Trần Văn T1, tổ công tác giới thiệu thành phần, lý do đến nhà ông T1 và yêu cầu Nguyễn Trung T chấm dứt hành vi và đến Công an xã T để làm việc nhưng T không chấp hành mà đi về nhà. Tổ công tác đi theo T và yêu cầu dừng lại nhưng T tiếp tục bỏ chạy về nhà lấy 01 con dao loại dao bầu (có tổng chiều dài 36cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 6,8cm) và 01 con dao tự chế (có lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm được gắn vào ống kim loại dài 110cm, đường kính ống kim loại 2,8cm) quay lại nhà ông T mục đích để đánh Q2. Lúc này ông Trần Văn T1, chị P, anh Q2 đang ngồi nói chuyện ở dưới bếp, T1 cầm dao đi vào đánh anh Q2 nhưng ông T1 đứng trước chị P và anh Q2 để can ngăn T1 nên T1 đã cầm dao chém một nhát trúng nắp nồi cơm điện đang đặt trên kệ bếp làm nồi cơm điện rơi xuống nền nhà và bị vỡ. Sau đó, T1 cầm dao bầu đâm xuống đệm đặt trên phản ở gần đó để đe doạ Quyền. Lúc này, Tổ công tác do ông Nguyễn Phan Long Q làm tổ trưởng đến yêu cầu T1 chấm dứt việc chửi bới và bỏ dao xuống để làm việc nhưng T1 không chấp hành mà tiến về phía Tổ công tác vung dao nhọn (được hàn vào ống kim loại) chém nhiều nhát về phía ông Q và Tổ công tác để đe dọa và cản trở Tổ công tác nên ông Q và Tổ công tác lùi lại. Sau đó Nguyễn Trung T cầm dao chạy về nhà. Thấy T có thái độ hung hăng và cầm theo hung khí nên Tổ công tác tiếp tục đi theo và yêu cầu T bỏ hung khí nhưng T không chấp hành mà đi về nhà vất 02 con dao trong nhà, đồng thời đóng, chốt hết các cửa lại không cho Tổ công tác vào. T đi xuống bếp lấy 01 bình gas nhãn hiệu “Hà Nội gas” màu xanh lá cây, trọng lượng 12kg đem lên hành lang trước cửa phòng ngủ của T và mở khí gas để không cho Tổ công tác khống chế T. Khi thấy lực lượng Công an xã mở được của cuốn định đi vào, T nói “thằng nào vào đây tao châm lửa cho nổ”, nói xong T cầm bật lửa châm đốt bình gas khiến bình gas cháy. Lúc này anh Đỗ Thái H- Trưởng Công an xã T (mặc trang phục đúng quy định) đến tăng cường đã dùng thang sắt đặt trước cửa để móc, kéo chiếc bình gas ra khỏi người T, đưa ra ngoài sân rồi dập lửa, đồng thời thành viên Tổ công tác đã khống chế và đưa T đến trụ sở Công an huyện S để làm việc.
* Kết luận định giá số 09 ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 (một) nồi cơm điện nhãn hiệu Panasonic, màu trắng bạc, đường kính 30cm, giá trị tài sản tại thời điểm bị hư hỏng là 420.000₫ (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
* Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ:
- + 01 (một) nồi cơm điện nhãn hiệu Panasonic, màu trắng bạc, đường kính 30cm, nồi đã qua sử dụng, bị vỡ bung nắp và đế đáy nồi;
- + 01 (một) bình gas màu xanh lá cây, trên thân bình có chữ “Hà Nội gas", thân bình ga (bao gồm cả phần tai bình) cao 59cm, đường kính thân bình gas 26cm, bình đã qua sử dụng, vỏ bình bám muội khói đen;
- + Tạp chất màu nâu đỏ tại vị trí số 01 tại hiện trường bằng gạc y tế;
- + 01 (một) con dao bầu dài 36cm, chuôi dao dài 14cm, lưỡi dao dài 22cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 6,8cm, đường kính cán dao 02cm.
- + 01 (một) ống tuýt sắt có gắn lưỡi dao dài tổng 110cm, trong đó: ông tuýt sắt dài 86cm, đường kính 2,8cm, phần lưỡi dao dài 24cm
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 24/3/2024, anh Nguyễn Thanh Q2 có đơn từ chối giám định thương tích; ông Trần Văn T1 và anh Nguyễn Thanh Q2 không yêu cầu đề nghị gì.
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 48/CT-VKSSD, ngày 17/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Trung T về tội Chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Nguyễn Trung T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo;
- - Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng có mặt tại phiên tòa trình bày lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, ông Trần Văn T1 và anh Nguyễn Thanh Q2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Ông T1 không yêu cầu đề nghị gì đối với nồi cơm điện đã bị hỏng.
- - Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- + Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội Chống người thi hành công vụ.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù giam.
- - Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) con dao bầu dài 36cm, chuôi dao dài 14cm, lưỡi dao dài 22cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 6,8cm, đường kính cán dao 02cm; 01 (một) ống tuýt sắt có gắn lưỡi dao dài dao dài 24cm; 01 (một) nồi cơm điện nhãn hiệu Panasonic màu trắng bạc, đường kính nồi 30cm, nồi đã qua sử dụng, bị vỡ bung nắp và đế đáy nồi; 01 (một) bình gas màu xanh lá cây, trên thân bình có chữ “Hà Nội gas”, thân bình ga (bao gồm cả tai bình) cao 59cm, đường kính thân bình gas 26cm, bình đã qua sử dụng, vỏ bình bám muội khói đen; Tạp chất màu nâu đỏ tại vị trí số 01 tại hiện trường bằng gạc y tế.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09/02/2024, Nguyễn Trung T cầm 01 con dao loại dao bầu (có tổng chiều dài 36cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 6,8cm) và 01 con dao tự chế (có lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm được gắn vào ống kim loại dài 110cm, đường kính ống kim loại 2,8cm) đến nhà ông Trần Văn T1 mục đích để đánh anh Nguyễn Thanh Q2 (bạn của con gái ông T1). Khi được Tổ công tác do ông Nguyễn Phan Long Q- Phó trưởng Công an xã T làm tổ trưởng cùng 03 đồng chí Công an viên (mặc trang phục đúng quy định) đến yêu cầu T1 chấm dứt việc chửi bới và bỏ dao xuống để làm việc nhưng T1 không chấp hành mà tiến về phía Tổ công tác vung dao nhọn (được hàn vào ống kim loại) chém nhiều nhát về phía ông Q và Tổ công tác để đe dọa và cản trở Tổ công tác nên ông Q và Tổ công tác lùi lại. Sau đó Nguyễn Trung T cầm dao chạy về nhà vất 02 con dao trong nhà, đồng thời đóng, chốt hết các cửa lại không cho Tổ công tác vào. T đi xuống bếp lấy 01 bình gas nhãn hiệu “Hà Nội gas” màu xanh lá cây, trọng lượng 12kg đem lên hành lang trước cửa phòng ngủ của T và mở khí gas để không cho Tổ công tác khống chế T. Khi thấy lực lượng Công an xã mở được của cuốn định đi vào, T nói “thằng nào vào đây tao châm lửa cho nổ”, nói xong T cầm bật lửa châm đốt bình gas khiến bình gas cháy để ngăn cản, không cho Tổ công tác Công an xã T vào làm việc.
Hành vi của Nguyễn Trung T đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
[2] Về tính chất của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn công cộng, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi chống người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Tiền án: Chưa có
Tiền sự: Ngày 06/01/2024, Nguyễn Trung T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T, huyện S đã ra Quyết định số 02/QĐ-XPHC ngày 11/01/2024, xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trung T. Mức phạt 1.500.000đ (T chưa nộp phạt).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo “phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam trong thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn T1 và anh Nguyễn Thanh Q2 không yêu cầu đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về vật chứng:
- - Đối với: 01 (một) con dao bầu dài 36cm, chuôi dao dài 14cm, lưỡi dao dài 22cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 6,8cm, đường kính cán dao 02cm; 01 (một) ống tuýt sắt có gắn lưỡi dao dài tổng 110cm, trong đó: ông tuýt sắt dài 86cm, đường kính 2,8cm, phần lưỡi dao dài 24cm. Đây là công cụ, phương tiện T1 sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với: 01 (một) nồi cơm điện nhãn hiệu Panasonic, màu trắng bạc, đường kính 30cm, nồi đã qua sử dụng, bị vỡ bung nắp và đế đáy nồi; 01 (một) bình gas màu xanh lá cây, trên thân bình có chữ “Hà Nội gas”, thân bình ga (bao gồm cả phần tai bình) cao 59cm, đường kính thân bình gas 26cm, bình đã qua sử dụng, vỏ bình bám muội khói đen; Tạp chất màu nâu đỏ tại vị trí số 01 tại hiện trường bằng gạc y tế. Đây là vật chứng của vụ án không sử dụng được, cần tịch thu và tiêu hủy.
[6] Các vấn đề khác: Đối với hành vi dùng dao tự chế chém vỡ nồi cơm điện nhãn hiệu Panasonic của gia đình ông Trần Văn T1, giá trị tài sản bị thiệt hại 420.000đ (không đủ lượng để xử lý hình sự) và hành vi dùng tay tát vào mặt của anh Nguyễn Thanh Q2 (anh Q2 từ chối giám định sức khỏe). Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội. Xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- 1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
- 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (11/02/2024).
- 3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bầu dài 36cm, chuôi dao dài 14cm, lưỡi dao dài 22cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 6,8cm, đường kính cán dao 02cm; 01 (một) ống tuýt sắt có gắn lưỡi dao dài dao dài 24cm; 01 (một) nồi cơm điện nhãn hiệu Panasonic màu trắng bạc, đường kính nồi 30cm, nồi đã qua sử dụng, bị vỡ bung nắp và đế đáy nồi; 01 (một) bình gas màu xanh lá cây, trên thân bình có chữ “Hà Nội gas”, thân bình ga (bao gồm cả tai bình) cao 59cm, đường kính thân bình gas 26cm, bình đã qua sử dụng, vỏ bình bám muội khói đen; Tạp chất màu nâu đỏ tại vị trí số 01 tại hiện trường bằng gạc y tế.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- 3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (14/5/2024); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định ./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Phạm Văn Vượng - Nguyễn Danh Long | Tăng Thị Hường |
8
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- - VKSND huyện Sơn Dương;
- - Công an huyện Sơn Dương;
- - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
- - UBND xã Thượng Âm;
- - Bị cáo;
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- - Lưu.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Tăng Thị Hường |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung T phạm tội Chống người thi hành công vụ
