Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS - ST

Ngày: 12 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.

Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thoa.
  2. Ông Phạm Hữu Lộc.
  3. Bà Nguyễn Thị Tưởng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành M, sinh ngày 15/4/1987, tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD: [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T1 (đã chết); Bị cáo có vợ: Du Thị Anh Đ (chưa đăng ký kết hôn); Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

* Đặc điểm nhân thân:

  • Ngày 08/11/2008, có hành vi Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân thị xã Tân An, tỉnh Long An áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 19/2009/HSST ngày 05/3/2009. Đã xóa án tích. Ngày 21/6/2011, có hành vi Đánh bạc bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự xử phạt 09 tháng tù tại Bản án số 89/2011/HSST. Do có kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm xử phạt 04 tháng tù tại bản án số 123/2012/HSPT ngày 17/7/2012. Đã xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Thành M bị bắt tạm giam từ ngày 22/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành M: Luật sư Ngô Thị Cẩm T2 - Văn phòng L1 - thuộc Đoàn luật sư tỉnh T. (Có mặt)

* Bị hại: Mai Thanh T3, sinh năm 1996. (Có mặt)

Đại diện hợp pháp của bị hại: Nguyễn Ngọc Anh T4, sinh năm 2000. (Có mặt)

Cùng cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Du Thị Anh Đ, sinh năm 1990. (Có mặt)
  • Nơi cư trú: ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

* Người làm chứng: Mai Thị L, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 26/02/2023, sau khi đã uống rượu bia, Nguyễn Thành M chạy xe mô tô biển số 63F1-0224 về ngang nhà anh Mai Thanh T3, ở ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì nhìn thấy anh T3 đang ngồi trước nhà. M nhớ lại chuyện mâu thuẫn với anh T3 trước đó nên nảy sinh ý định chém anh T3 trả thù. M về nhà lấy 01 con dao tự chế (theo mô tả của M là con dao kim loại đã cũ, mũi bằng, dài 40cm, rộng 05cm, cán bằng gỗ khoảng 10cm) quay lại nhà anh T3. Lúc này, nhà anh T3 khóa cổng rào nên M đứng bên ngoài cầm dao dọa chém anh T3, do sợ bị M xông vào chém nên anh T3 đi vào bên trong nhà lấy 01 khẩu súng cầm đi ra dọa bắn, ngăn không cho M đi vào bên trong nhà. M dùng dao chém vào cổng hàng rào nhà anh T3, dùng dao mở móc sắt hàng rào lưới B40 để vào nhà anh T3, nên anh T3 cầm một miếng gạch men ném về phía M nhưng trúng vào hàng rào lưới B40. Sau đó, anh T3 chạy vào nhà lấy một cây búa (loại búa đóng đinh) khi trở ra thấy M mở được ba móc sắt hàng rào lưới B40 nên anh T3 cầm búa ném về phía M nhưng không trúng, M cầm dao bước qua hàng rào lưới B40 xông vào chém 02 cái nhưng không trúng anh T3. Anh T3 chạy lùi về phía sau bị vấp bậc thềm nhà té ngã ngữa, khẩu súng rơi khỏi tay của anh T3, anh T3 chống tay ngồi dậy thì M cầm dao chạy tới chém 01 cái từ trên xuống trúng vào đầu của anh T3, M tiếp tục chém 01 cái từ phải qua trái trúng vào chân trái và chân phải của anh T3, lúc này vợ là chị Nguyễn Ngọc Anh T4 và dì của T3 là bà Mai Thị L truy hô, can ngăn nên M bỏ về. Trên đường về thì M vứt dao xuống sông. Anh T3 được gia đình đưa đến Bệnh viện cấp cứu điều trị đến ngày 06/03/2023 thì xuất viện.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 76/2023/KLTTCT-TTPY ngày 02/3/2023 của Trung tâm giám định pháp y, kết luận:

“1. Các kết quả chính: Vết mổ trùng vết thương trán đỉnh thái dương trái.

2. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhận Mai Thanh T3 là 02%.

3. Kết luận khác: Thương tích do vật sắc gây nên.

Hiện tại đương sự đang điều trị chưa ổn định. Yêu cầu giám định bổ sung khi điều trị ổn định”

Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 113/2023/KLTTCT-TTPY ngày 04/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - Kết quả khám giám định:
  • + Sẹo vết thương 1/3 trên trước trong cẳng chân phải.
  • + Sẹo mổ trùng sẹo vết thương trán đỉnh thái dương trái.
  • + Ở khuyết sọ thái dương đỉnh trái, đáy phập phồng.
  • + Xuất huyết dưới nhện thùy trán trái. Hiện còn hình ảnh tổn thương.
  • + Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái. Hiện còn hình ảnh tổn thương.
  • + Tổn thương não di chứng rối loạn ngôn ngữ. Mất vận động ngôn ngữ kiểu Broca mức độ nhẹ.
  • - Kết quả cận lâm sàng:
  • + Tổn thương giảm đậm độ nhu mô não vùng đỉnh bán cầu trái =>Tổn thương não cũ.
  • + Khuyết sọ đính trái.

2. Kết luận:

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Mai Thanh T3 là 58% (Năm mươi tám phần trăm). Thương tích do vật sắc gây nên”.

Ngày 31/10/2023, Viện pháp y tâm thần Trung ương B có bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 776/KL-VPYTW kết luận năng lực trách nhiệm hình sự của anh Mai Thanh T3 như sau:

  • - Về y học:
  • + Trước, trong khi gây án: Đương sự không có bệnh tâm thần;
  • + Sau khi gây án: Đương sự bị Chấn thương sọ não.
  • + Hiện nay: Đương sự bị bệnh Hội chứng chấn động não (F07.2- ICD.10).
  • - Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:
  • + Tại thời điểm gây án: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
  • + Hiện nay: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (cần người đại diện trước pháp luật).

Ngày 06/02/2024, Viện pháp y tâm thần trung ương B có công văn số 28/VPYTW trả lời như sau: “Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y thì trường hợp của anh Mai Thanh T3 bị bệnh: Hội chứng chấn động não (F07.2 - ICD10), điều trị ổn định. Thì tỷ lệ tổn thương cơ thể được tính là: 11-15% tạm thời.

Ngày 21/02/2024, Trung tâm pháp y tỉnh T có công văn số 34/CV-PY về việc xác định tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của Mai Thanh T3 như sau:

“+ Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 776/KL-VPYTW ngày 31/10/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa trường hợp B xác định bị bệnh: Hội chứng chấn động não. Tỷ lệ là: 11-15% tạm thời. Trung tâm Pháp y lấy tỷ lệ cho thương tích này là: 13% (Mười ba phần trăm). Căn cứ thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

+ Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Mai Thanh T3 ở Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 113/2023/KLTTCT TTPY ngày 04/4/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T và Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 776/KL-VPYTW ngày 31/10/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B là: 63% (Sáu mươi ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ trưởng Bộ Y”.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Thời gian lúc 14 giờ ngày 26/02/2023, tại nhà Mai Thanh T3 thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Ghi nhận, nhà anh Mai Thanh T3 nằm quay mặt về hướng Tây được xây dựng bằng tường, máy Fibro xi măng, nền xi măng, xung quanh nhà có hàng rào B40 bảo vệ. Cổng rào chính bằng kim loại ốp lưới B40, có hai cánh mõi cách có kích thước (1,70x1,06)m. Phía cổng rào hướng Bắc trên hàng rào lưới B40 có 01 khoảng trống có kích thước (1,50x0,70)m. Trên nền xi măng phát hiện 01 tấm gạch men đã bị bể và nhiều mãnh vỡ của tấm gạch men. Hướng Đông trên nền xi măng phát hiện 01 cái búa bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại được sơn màu đỏ. Hướng Đông khu vực xảy ra sự việc trên nền xi măng phát hiện có nhiều dấu vết màu đỏ

nghi máu dạng nhỏ giọt diện rộng (1,5x1,2)m. Hướng Nam trên nền xi măng phát hiện 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen.

* Thực nghiệm điều tra:

Kết quả thực nghiệm điều tra ngày 27/8/2023, Nguyễn Thành M đã diễn tả lại hành vi dùng hung khí (dao) chém Mai Thanh T3 phù hợp với lời khai và thương tích thực tế trên người Mai Thanh T3.

* Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đang tạm giữ:

  • 01 (một) đoạn dữ liệu camera có thời lượng 03 phút 56 giây, bắt đầu lúc 11 giờ 43 phút ngày 26/02/2023. Đoạn camera này ghi nhận diễn biến Nguyễn Thành M cầm dao đứng trước nhà dọa chém, mở hàng rào lưới B40 đi vào trong nhà và dùng dao chém Mai Thanh T3.
  • + Ngày 30/11/2023, Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an có Bản kết luận giám định số 6490/KL-KTHS có kết luận như sau: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trong tập tin video gửi giám định; Hình ảnh người có hình dáng nữ giới xuất hiện trong tập tin video gửi giám định so với hình ảnh Nguyễn Ngọc A Thư trong tập tin video mẫu so sánh là hình ảnh của cùng một người; Hình ảnh người có hình dáng nam giới, không mặc áo, mặc quần ngắn màu cam xuất hiện trong tập tin video gửi giám định so với hình ảnh Mai Thanh T3 trong tập tin video mẫu so sánh là hình ảnh của cùng một người; Hình ảnh người có hình dáng nam giới đứng ngoài tường rào xuất hiện trong tập tin video gửi giám định so với hình ảnh Nguyễn Thành M trong tập tin video mẫu so sánh là hình ảnh của cùng một người.
  • + Ngày 04/12/2023, Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an có Bản kết luận giám định số 6490-1/KL-KTHS có kết luận như sau: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hội thoại trong file video mẫu cần giám định; Không đủ cơ sở giám định tiếng nói của Nguyễn Ngọc Anh T4, Mai Thanh T3, Nguyễn Thành M do tiếng nói trong file video mẫu cần giám định có chất lượng kém (tần số âm thanh bị thay đổi, ồn nhiễu lớn, tạp âm nhiều).
  • 01 (một) tấm gạch men đã bị bể, kích thước (15.5x48)cm.
  • 01 (một) cái búa dài 30cm, cán bằng gỗ, lưỡi búa bằng kim loại được sơn màu đỏ cán, có 01 đầu dẹp bản rộng 2.3cm, 01 đầu hình vuông kích thước (2.5 x 2.5) cm, phần lưỡi búa dài 10.7cm.

Đối với: 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, báng súng bằng nhựa, trên báng súng có ghi chữ ZP-5, trên thân súng có ghi chữ XYL221113366, trên nòng súng có ghi chữ SMITH&WESSON và 01 (một) viên đạn bằng kim loại màu đồng, đầu đạn màu đen đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh T để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với con dao tự chế theo lời trình bày Nguyễn Thành M là con dao kim loại đã cũ, mũi bằng, dài 40cm, rộng 05cm, cán bằng gỗ khoảng 10cm sau khi chém anh T3 xong thì M ném xuống kênh gần chân cầu Nguyễn Văn N, đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.

* Trách nhiệm dân sự: Bị hại Mai Thanh T3 yêu cầu bồi thường số tiền 500.000.000 đồng gồm tiền tổn thất tinh thần 408.253.000 đồng và chi phí mổ hộp sọ, tiền thuốc điều trị vết thương 91.747.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thành M đồng ý bồi thường chi phí mổ hộp sọ, tiền thuốc điều trị vết thương 91.747.000 đồng đã bồi thường được 91.500.000 đồng. Đối với tiền tổn thất tinh thần là 408.253.000 đồng Bị cáo không đồng ý bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSTG – P2 ngày 27 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành M về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  • + Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành M phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
  • + Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 13 đến 14 năm tù.
  • + Trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại theo quy định.
  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu các vật chứng đang tạm giữ tiêu huỷ.

- Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố. Do bị cáo phạm tội chưa đạt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, chưa có tiền án tiền sự, nên kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Nguyễn Thành M nói lời sau cùng: Kính xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Việc vắng mặt của người làm chứng. Xét thấy, trong giai đoạn điều tra người làm chứng đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự, nên việc vắng mặt người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản 1 của Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, xét thấy lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do có mâu thuẫn nên vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 26/02/2023, Nguyễn Thành M cầm dao đi đến nhà Mai Thanh T3, M mở hàng rào B40 đi vào nhà dùng dao chém từ trên xuống trúng vào đầu anh T3 01 cái và chém 01 cái theo hướng ngang từ trái qua phải trúng vào 02 chân của anh T3 gây ra thương tích 63%. Mặc dù hậu quả chết người chưa xảy ra nhưng việc bị cáo M dùng dao chém vào vùng đầu là vùng trọng yếu cơ thể trong khi anh T3 bị té ngã, hạn chế khả năng chống cự cho thấy bị cáo M có ý định tước đoạt tính mạng của anh T3. Do đó, cáo trạng quy kết bị cáo Nguyễn Thành M phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi của mình, tính mạng sức khỏe của con người luôn được pháp luật bảo vệ, không ai được quyền xâm phạm nhưng chỉ vì xuất phát từ việc mâu thuẫn cá nhân bị cáo đã dùng dao là loại hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu và chân của anh T3, bất chấp hậu quả. Việc anh T3 không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Hành vi này không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Cho nên phải được xử lý thoả đáng cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có điều kiện cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo trở thành người lương thiện đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội chưa đạt và đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 91.500.000 đồng, tại tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ, hậu quả do bị cáo thực hiện cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét khoan hồng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra vụ án bị cáo đã tác động gia đình đã bồi thường cho anh T3 số tiền 91.500.000 đồng. Tại toà bị hại khai hiện vẫn còn uống thuốc điều trị nên yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền thuốc là 200.000.000 đồng. Bị cáo chỉ đồng ý bồi thường số tiền 50.000.000 đồng vì không có khả năng. Xét thấy vụ án xảy ra lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, mức yêu cầu của bị hại là cao chưa thật sự phù hợp. Bởi lẽ, anh T3 chỉ bị tổng thương tích 63%. Do đó nghĩ nên điều chỉnh buộc bị cáo bồi thường tiếp số tiền tổn thất tinh thần, tiền thuốc tổng cộng 120.000.000 đồng là phù hợp.

[7] Vật chứng trong vụ án gồm:

- 01 (một) tấm gạch men đã bị bể, 01 (một) cái búa dài 30cm, cán bằng gỗ, lưỡi búa bằng kim loại. Đây là đồ vật có liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân dự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Xét lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Xét lời luận tội đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành M phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 22/4/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành M bồi thường tiếp cho bị hại Mai Thanh T3 tiền tổn thất tinh thần, tiền thuốc tổng cộng 120.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, đồ vật gồm:

  • 01 (một) tấm gạch men đã bị bể, kích thước (15.5x48)cm.
  • 01 (một) cái búa dài 30cm, cán bằng gỗ, lưỡi búa bằng kim loại được sơn màu đỏ, có 01 đầu dẹp bản rộng 2.3cm, 01 đầu hình vuông kích thước (2.5 x 2.5) cm, phần lưỡi búa dài 10.7cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;(1)
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;(1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TG;(1)
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG;(1)
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh TG;(1)
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TG;(1)
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh TG;(1)
  • - Sở tư pháp tỉnh TG;(1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.(1)
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS - ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về giết người

  • Số bản án: 45/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, xét thấy lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do có mâu thuẫn nên vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 26/02/2023, Nguyễn Thành M cầm dao đi đến nhà Mai Thanh T3, M mở hàng rào B40 đi vào nhà dùng dao chém từ trên xuống trúng vào đầu anh T3 01 cái và chém 01 cái theo hướng ngang từ trái qua phải trúng vào 02 chân của anh T3 gây ra thương tích 63%. Mặc dù hậu quả chết người chưa xảy ra nhưng việc bị cáo M dùng dao chém vào vùng đầu là vùng trọng yếu cơ thể trong khi anh T3 bị té ngã, hạn chế khả năng chống cự cho thấy bị cáo M có ý định tước đoạt tính mạng của anh T3. Do đó, cáo trạng quy kết bị cáo Nguyễn Thành M phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger