Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 19/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hường.
  2. Bà Mai Thị Huyền Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải Long-Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/HSST ngày 13/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với bị cáo:

Đặng H (tên gọi khác: Vàng) -sinh năm 2000, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Đặng T và bà Lê Thị M; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 05/4/2023, bị Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”, H đã nộp tiền phạt ngày 25/4/2023.

Nhân thân:

+Ngày 04/4/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, tuyên phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chưa thi hành.

+Ngày 19/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chưa thi hành án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt tại phiên tòa).

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đặng H: Luật sư Bá Trung Á–Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N.

-Bị hại:

+Bà Võ Thị D–sinh năm 1974; Trú tại: Khu phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

+Bà Võ Thị H1–sinh năm 1963; Trú tại: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

+Ông Nguyễn Hồng S–sinh năm 1995; Trú tại: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

+Trung tâm y tế huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của Trung tâm y tế huyện N, tỉnh Ninh Thuận: Ông Đổng Vĩ Q–sinh năm: 1973, trú tại: Khu phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, tham gia tố tụng (vắng mặt).

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+Bà Hoàng Thị T1–sinh năm 1975; Trú tại: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

+Ông Nguyễn Ngọc L–sinh năm 1975; Trú tại: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

+Ông Nguyễn Ngọc T2–sinh năm 1972; Trú tại: Thôn L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

-Người làm chứng:

+Ông Đàng Sỹ H2–sinh năm 1963; Trú tại: Khu phố F, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

+Ông Lê Quang H3–sinh năm 1999; Trú tại: Khu phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diện biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng H bị xử phạt theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 46/QĐ-XPHC ngày 05/4/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn P về hành vi “trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000đồng, H đã nộp phạt ngày 25/4/2023. Trong thời gian từ ngày 14/11/2023 đến ngày 07/3/2024, Đặng H đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, cụ thể:

Lần 1: Vào sáng ngày 14/11/2023, H điều khiển xe mô tô 85D1-745.35 đến nhà bà Võ Thị Dkhu phố C, thị trấn P lấy trộm 01 xe kéo buộc vào sau xe mô tô rồi đem đi cất giấu. Sau đó, H điều khiển xe mô tô quay lại nhà bà D để lấy trộm tiếp 01 xe kéo. Đến 03 giờ 40 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô kéo theo xe kéo đi đến nhà bà Võ Thị H1 buôn bán phế liệu ở khu phố A, thị trấn P lấy trộm 04 thanh kẽm hình chữ “I” dài khoảng 2m để lên xe kéo thì bị phát hiện nên H bỏ chạy để lại xe kéo cùng 04 thanh kẽm. Chiếc xe kéo cắt giấu trước đó, H nhờ P bán 200.000đ và tiêu xài hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 04/3/2024 kết luận: +02 xe kéo tự chế, bằng sắt qua sử dụng, dài 1,9m: có tay kéo dài 0,7m, thùng xe kích thước (dài 1,2m, rộng 0,82m, cao 0,83m), đáy thùng lót bằng tôn kẽm, đường kính mỗi bánh xe 40cm, độ rộng bánh xe 10cm, trọng lượng 01 xe 70kg có giá trị 2.656.000đ; +04 thanh kẽm chữ “I”, màu trắng, mỗi thanh nặng 69kg, có giá trị 6.900.000đ.

Lần 2: Khoảng 03 giờ 45 phút, ngày 19/11/2023, H điều khiển xe mô tô 85D1-745.35 tiếp tục đến nhà bà Võ Thị H1 buôn bán phế liệu ở khu phố A, thị trấn P, để trộm cắp tài sản gồm: 04 khung kẽm, 01 khung sắt, 01 thanh kẽm. Do không chở hết nên H đã bỏ lại 01 khung sắt và 04 khung kẽm ở ven đường. H chở theo 01 thanh kẽm đi nhờ bạn K bán phế liệu được 160.000đ.

Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: +01 khung sắt để giày dép, nặng 42 kg, đã qua sử dụng có giá trị 336.000đ; +01 thanh kẽm chữ “I”, màu trắng, nặng 69kg, đã qua sử dụng có giá trị 1.725.000đ; +04 khung kẽm, màu trắng hình vuông, kích thước (5x10)cm, mỗi khung nặng 12kg, có giá 1.200.000đ.

Lần 3: Khoảng 03 giờ, ngày 29/11/2023, H điều khiển xe mô tô 85D1-745.35 đến Trung tâm y tế huyện N để trộm cắp tài sản gồm 02 khung sắt, 01 thanh kim loại để lên xe mô tô chở đi thì bảo vệ của Trung tâm y tế huyện N phát hiện đuổi theo nhưng không kịp. H chạy xe đi đến cầu C thì bị rơi mất 02 khung sắt, còn 01 thanh kim loại H đem bán phế liệu được 40.000đ.

Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: +01 khung sắt, loại sắt hộp, sơn màu xanh có kích thước dài 164cm, rộng 30cm, trọng lượng 07kg giá trị 56.000đ; +01 khung sắt, loại sắt hộp, sơn màu xanh có kích thước dài 345cm, rộng 30cm, trọng lượng 14kg, giá trị 112.000đ; +01 trụ sắt dài 01m, loại trụ tròn rỗng đường kính 10cm, khối lượng 08 kg, giá trị 64.000đ.

Lần 4: Chiều ngày 05/3/2024, H điều khiển xe mô tô 85V4-9047 đến trước nhà anh Nguyễn Hồng Skhu phố A, thị trấn P, lấy trộm 01 tấm kim loại rồi chở đi bán cho tiệm phế liệu của ông Lê D1 được 210.000đ.

Bản kết luận định giá tài sản số 32, ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 miếng sắt, có kích thước rộng 01m, dài 02m, độ dày là 01cm, trọng lượng 95kg, đã qua sử dụng có giá trị 2.488.800đ.

Lần 5: Vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 07/3/2024, H điều khiển xe mô tô 85V4-9047, tiếp tục đến nhà anh Nguyễn Hồng Skhu phố A, thị trấn P. Lấy trộm 01 gầu máy xúc rồi chở đi bán cho tiệm phế liệu của ông Nguyễn Ngọc T2 được 525.000đ. Bị phát hiện, H đã trả lại số tiền trên cho T2.

Bản kết luận định giá tài sản số 32, ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 gầu máy xúc, loại nhỏ PC60, bằng sắt có chiều dài 55cm, chiều rộng 43cm, khối lượng 69,9kg, đã qua sử dụng có giá trị 5.199.600đ.

*Vật chứng:

+01 xe kéo tự chế, bằng sắt, trọng lượng 70kg, do bà Võ Thị H1 giao nộp-xác định là tài sản của bà Võ Thị D nên trả lại cho bà D.

+02 khung sắt, loại sắt hộp, sơn màu xanh có trọng lượng 07kg và 14kg, đã qua sử dụng do ông Đàng Sỹ H2 giao nộp-xác định là tài sản của Trung tâm y tế huyện N nên trả lại cho Trung tâm.

+01 gầu dùng cho máy xúc loại nhỏ bằng sắt đã qua sử dụng do ông Nguyễn Ngọc L giao nộp-xác định là tài sản của anh Nguyễn Hồng S nên trả lại cho S.

+01 xe mô tô 85V4-9047, Đặng H sử dụng làm phương tiện phạm tội và giao nộp, hiện chưa xác minh, làm rõ nguồn gốc xe.

+01 xe mô tô 85D1-745.35, Đặng H sử dụng làm phương tiện phạm tội đã được Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước nên HĐXX không xét.

Đối với 01 xe mô tô biển số 85V4-9047, do Đặng H giao nộp, H khai xe mua của bạn tên H4-nhưng đứng tên Trần Thị H5. Tuy nhiên H5 không có mặt ở địa phương khu phố A-phường Đ-tp .-Ninh Thuận. Vì vậy cần giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

* Dân sự: Ông Đổng Vĩ Q-đại diện Trung tâm y tế huyện N đã nhận lại 02 khung sắt. Bà Võ Thị D nhận lại 01 xe kéo tự chế. Ông Q, bà D, anh Nguyễn Hồng S và bà Võ Thị H1 không yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-HS ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát huyện N truy tố Đặng H về tội “trộm cắp tài sản” tại Khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phần tranh luận Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng Khoản 1 Điều 173;Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 2 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt Đặng H từ 12 đến 18 tháng tù.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thấy hành vi Trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên. Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/11/2023 đến ngày 07/3/2024, Đặng H đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thị trấn P, huyện N. Giá trị tài sản trong 05 lần trộm cắp lần lượt là: Lần 1: ngày 14/11/2023 là 9.556.000 đồng, Lần 2: ngày 19/11/2023 là 3.261.000 đồng, Lần 3: ngày 29/11/2023 là 232.000 đồng, Lần 4: ngày 05/3/2024 là 2.488.800 đồng, Lần 5: ngày 07/3/2024 là 5.199.600 đồng, tổng giá trị là 20.737.400 đồng. Số tiền có được do bán tài sản trộm cắp, Đặng H đã tiêu xài cá nhân. Hành vi của Đặng H là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, nên phải chịu trách hình sự về tội “trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS, như quyết định truy tố của Viện kiểm sát huyện N là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo có nghề nghiệp làm thuê. Trong những lần bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản đều có giá trị thấp và mục đích trộm cắp tài sản là bán để lấy tiền tiêu vặt. Việc trộm cắp tài sản của bị cáo không phải là nguồn sống chính nên không đủ yếu tố cấu thành phạm tội chuyên nghiệp.

[3] Nhận thấy bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính tham lam, lười lao động nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo cố ý phạm tội. Do vậy cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục.

[4] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả, nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu cụ thể: ngày 05/4/2023, bị UBND thị trấn P, huyện N, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”. Ngày 04/4/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Ngày 19/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Và trong khoảng thời gian từ ngày 14/11/2023 đến ngày 07/3/2024, bị cáo đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thị trấn P nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có 01 người bị hại Nguyễn Hồng S xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước về việc định tội, định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

[6] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm dân sự và quy định của pháp luật để xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[7] Tại bản án số 07/2024/HS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt bị cáo 06 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản” và bản án số 35/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xử phạt bị cáo 06 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản”. Cả hai bản án này bị cáo chưa thi hành án. Vì vậy HĐXX quyết định hình phạt của tội đang xét xử và tổng hợp hình phạt chung của cả ba bản án theo quy định tại Điều 56 BLHS.

[8] Biện pháp tư pháp: Cơ quan điều tra Công an huyện N đã thu giữ tài sản bị trộm cắp và đã trả lại cho chủ sở hữu. Quá trình điều tra chủ sở hữu không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xét.

Đối với 01 xe mô tô biển số 85D1-745.35, Đặng H sử dụng làm phương tiện phạm tội đã được Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước nên HĐXX không xét.

Đối với 01 xe mô tô biển số 85V4-9047, do Đặng H giao nộp, H khai xe mua của bạn tên H4-nhưng đứng tên Trần Thị H5. Tuy nhiên H5 không có mặt ở địa phương khu phố A-phường Đ-tp .-Ninh Thuận. Vì vậy cần giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

[9] Vấn đề khác:

Đối tượng tên P, K, Đ có hành vi giúp bị cáo Đặng Hòa b tài sản trộm cắp-chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cần điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với Lê D1Nguyễn Ngọc T2-là người mua tài sản của bị cáo Đặng H. Tuy nhiên D1, T2 không biết nguồn gốc tài sản này là do bị cáo trộm cắp mà có nên không bị xử lý hình sự.

[10] Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo được Cơ quan có thẩm quyền xác nhận nên được miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 2 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Đặng H phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Đặng H 12 (mười hai) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.
  4. Áp dụng: Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù theo Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận và 06 (sáu) tháng tù theo Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Đặng H phải chấp hành hình phạt chung của cả ba bản án là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 11/3/2024).
  5. Về án phí: Áp dụng Điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng H thuộc hộ nghèo nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/9/2024). Người bị hại vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • -Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND huyện Ninh Phước;
  • -Công an huyện Ninh Phước;
  • -Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • -Những người tham gia tố tụng;
  • -Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

T THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Dương Thị Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng H. về tội “trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger