|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST
Ngày 19 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đàm Thị Tư |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Hồng Diện |
| Bà Nguyễn Thị Lam |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Cao Thị Bích L, sinh ngày 20 tháng 09 năm 1981 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/4/2021; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Đ và bà Nguyễn Thị Ánh H; có chồng là Lê Anh C; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền sự: Không.
* Tiền án: Ngày 23/12/2022 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, theo bản án số 17/2022/HSST. Bị cáo đã nộp xong tiền phạt vào ngày 14/6/2023.
* Nhân thân:
- Ngày 16/04/2013 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.000.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 24/4/2013.
- Ngày 24/11/2020 bị Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”, đã chấp hành xong ngày 24/11/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/3/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt
2. Nguyễn Thị Q, sinh ngày 07 tháng 05 năm 1974 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu H, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/5/2022; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T; có chồng là Nguyễn Đức H1; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền sự: Không;
* Tiền án:
- Ngày 12/07/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 62/2022/HS-PT.
- Ngày 23/12/2022 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 17/2022/HSST. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại bản án số 62/2022/HS-PT, ngày 12/07/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 13 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/10/2023.
* Nhân thân:
- Ngày 04/5/2010 Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 200.000 đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong ngày 05/5/2010.
- Ngày 26/9/2013 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” Tại bản án số 117/2013/HSST. Chấp hành xong ngày 29/4/2014.
- Ngày 19/12/2017 Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, về tội “Cướp giật tài sản”, theo bản án số 29/2017/HSST. Chấp hành xong ngày 19/6/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh H. Có mặt
3. Nguyễn Thị N, sinh ngày 19 tháng 01 năm 1972 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu H, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/4/2021; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Bùi Thị V; có
chồng là Nguyễn Văn O; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân:
- Ngày 16/4/2013 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 24/4/2013.
- Ngày 24/11/2020 bị Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”. Chấp hành xong ngày 24/11/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 25/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt
4. Phan Thị Thanh H2, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1990 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu M, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG cấp ngày 24/8/2018; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh B và bà Nguyễn Thị Y; có chồng là Nguyễn Văn T1; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 02/4/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt
- Bị hại: Bà Hạng Thị D, sinh năm 1945; nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Thào Seo B1, sinh năm 1996. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/3/2024, Công an huyện B nhận được đơn trình báo của ông Thào Seo B1, sinh năm 1996, trú tại thôn V, xã V, huyện B về việc: Vào buổi sáng ngày 16/3/2024 bà Hạng Thị D, sinh năm 1945 (là bà nội) cư trú cùng thôn có đi bán rau, củ gừng tại khu vực vỉa hè gần Trung tâm văn hóa huyện B (thuộc tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang). Khoảng 10 giờ 30 phút có 02 người phụ nữ đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen đến hỏi mua 2kg củ gừng với giá 40.000 đồng, bà D nhặt gừng cho vào túi đưa cho người hỏi mua, người phụ nữ đi cùng có đưa cho bà D 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Bà D nhận tờ tiền rồi mở chiếc túi vải đeo trước bụng lấy ra tập tiền đếm để trả bù lại tiền thừa cho người mua gừng 450.000 đồng, thì người đó nói còn thiếu 10.000 đồng, bà D nói lại không còn tiền lẻ. Ngay lúc đó có thêm 02 người phụ nữ khác đi xe mô tô đến hỏi mua 5kg
củ gừng. Lợi dụng bà D không chú ý và do mải bán gừng cho 02 người phụ nữ mới đến, người phụ nữ đầu tiên hỏi mua gừng nói với bà D “Tiền lẻ đây này bà ơi”, đồng thời người này dùng tay phải cầm lấy tập tiền mà bà D đang cầm trên tay, sau đó cho tiền vào túi áo khoác rồi lái xe chở theo người phụ nữ đã đi cùng đi theo hướng lên thành phố H. Hai người phụ nữ đến sau bảo bà D nhặt đủ 05 kg gừng cho vào túi để tí nữa quay lại lấy và lên xe đi luôn. Sau khi cả bốn người rời đi, bà Hạng Thị D mới phát hiện bị mất số tiền khoảng 9.000.000đ. Do đó, bà D đã nhờ cháu nội của mình là Thào Seo B1 làm đơn trình báo công an huyện B.
Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã truy tìm các đối tượng theo sự mô tả của bà Hạng Thị D. Đến ngày 17/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã truy bắt được 04 đối tượng gồm: Cao Thị Bích L, sinh năm 1981, Nguyễn Thị N, sinh năm 1972; Nguyễn Thị Q, sinh năm 1974 và Phan Thị Thanh H2, sinh năm 1990, đều trú tại xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Tại cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Do quen biết nhau, vào ngày 15/3/2025 Cao Thị Bích L đã rủ Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Q, cùng nhau đi lên tỉnh Hà Giang, Q có rủ thêm Phan Thị Thanh H2, sau khi N, Q, H2 đồng ý, Trước khi đi, các đối tượng cùng bàn bạc, thống nhất đi xe máy lên tỉnh Hà Giang để cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của người bán hàng dọc đường là người già, người dân tộc thiểu số. Các đối tượng bàn bạc thống nhất như sau: L và N sẽ vào chỗ bán hàng hỏi mua hàng trước, Nghị sẽ trả tiền bằng tờ tiền có mệnh giá lớn (500.000 đồng) để người bán hàng phải bù lại tiền, sau đó Q và H2 sẽ vào sau và tiếp tục hỏi mua hàng của người bán nhằm đánh lạc hướng và làm cho người bán hàng không chú ý, mất tập trung khi đưa tiền bù; lợi dụng sự sơ hở đó các đối tượng sẽ chiếm đoạt tiền của người bán hàng. Số tiền chiếm đoạt được, sẽ chi tiêu vào việc đổ xăng xe và ăn uống dọc đường, số còn lại chia nhau.
Khoảng 05 giờ sáng ngày 16/3/2024 Nguyễn Thị N đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSXF1 màu sơn đen, biển kiểm soát 19G1-546.22 đến đón Cao Thị Bích L, còn H2 đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH 150i màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 90B2-032.06 đi cùng Q. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày L, Q, N, H2 đi đến thị trấn V, huyện B. Khi đi qua ngã ba đèn đỏ trung tâm huyện khoảng 50m, Liên quan sát thấy phía bên phải đường hướng Tuyên Quang - Hà Giang, có mấy người đang bán hàng, trong đó có một người phụ nữ mặc quần áo dân tộc Mông đã già, nên cả bốn đối tượng cùng nhau thống nhất thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như đã bàn bạc từ trước. L và N đi vào hỏi bà Hạng Thị D, mua 02 kg củ gừng, Liên nhặt củ gừng để cân, với số tiền là 40.000 đồng, N đưa cho bà D một tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), để bà D trả lại tiền thừa. Lúc đó Q và H2 đi đến, Q giả vờ hỏi mua 5kg gừng để đánh lạc hướng bà D, còn H2 đi lại quan sát. Bà D lấy một tập tiền trong túi vải đeo trước bụng để tìm tiền bù lại, do không đủ tiền nên bà
D chỉ đưa cho N số tiền 450.000 đồng, L bảo còn thiếu 10.000 đồng thì bà D nói không còn tiền lẻ. Lợi dụng bà D đang trả lời Q và H2 hỏi mua gừng nên L đã nói với bà D đưa tiền cho mình để tự lấy tiền thừa, do mải bán hàng và không để ý nên bà D đã đưa số tiền trên tay cho L và tiếp tục quay sang nhặt gừng cho Q và H2. Sau khi cầm tiền, quan sát thấy bà D không chú ý L đã gập một phần tiền bên dưới của tập tiền rồi nắm lại bằng tay trái, tay phải L cầm phần tiền còn lại đưa cho bà D, sau đó L cho tiền vào túi áo khoác rồi cùng N điều khiển xe máy đi theo hướng đi lên thành phố H, tỉnh Hà Giang. Sau khi L và N đi được một lúc thì Q và H2 nói với bà D nhặt đủ 05 kg gừng cho vào túi để tí nữa quay lại lấy, sau đó Q và H2 điều khiển xe máy đi theo hướng lên thành phố H. L và N đi được khoảng 1,5 km - 2 km thì dừng xe đếm số tiền vừa chiếm đoạt được của bà D là 9.000.000đ (chín triệu đồng), sau đó L đưa cho N cầm số tiền trên và tiếp tục điều khiển xe đi chậm để chờ Q và H2. Sau khi Q và H2 đuổi kịp, L dừng xe và thống nhất với mọi người chia đều cho mỗi người 2.000.000 đồng và được tất cả đồng ý. L đưa cho Q số tiền 4.000.000 đồng (gồm phần của Q và H2); L giữ lại 2.000.000 đồng và đưa cho N 3.000.000 đồng (gồm phần của Nghị 2.000.000 đồng và 1.000.000đ để chi tiêu ăn uống, mua xăng xe đi lại cho cả bốn người). Sau khi chia tiền xong các đối tượng tiếp tục di chuyển lên thành phố H để tìm quán ăn cơm và nghỉ ngơi. Tại quán ăn cơm có một người khách không quen biết đến ăn cơm cần tiền mặt, nên L đã đưa số tiền 2.000.000 đồng cho người khách đó để họ chuyển khoản trả lại số tiền 2.000.000đ vào tài khoản số 2712205163007 của L mở tại Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Sau khi ăn cơm xong L, Q, N, H2 quay về đến địa phận thị trấn V, huyện B thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phát hiện bắt giữ và thu giữ các đồ vật, tài liệu sau:
- Thu giữ của Cao Thị Bích L 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO, mặt lưng điện thoại màu xanh, có nhiều vết nứt vỡ, màn hình điện thoại có một số vết nứt, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm, dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có ghi chữ HSL, mũ có kính chắn gió, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác dài tay, có mũ, màu nâu, áo cũ đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Nguyễn Thị N số tiền 6.147.000 đồng (sáu triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm, dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, bên ngoài mũ có ghi chữ GRS, mũ có kính chắn gió, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác gió dài tay, màu xám, áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSXF1, màu đen, BKS 19G1-546.22, xe cũ đã qua sử dụng, số máy JA52E-0603445, số khung RLHJA383XPY216404, xe có 02 gương chiếu hậu.
- Thu giữ của Nguyễn Thị Q 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu xanh, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi, màu xanh, cũ đã qua sử dụng; Số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
- Thu giữ của Phan Thị Thanh H2 số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại SH150i, màu sơn xanh - đen, BKS 90B2-032.06, cũ đã qua sử dụng.
Ngày 31/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 227/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định đối với 157 (một trăm năm mươi bảy) tờ tiền Việt nam, trị giá 11.547.000₫ (mười một triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) là tiền thật hay tiền giả. Tại bản kết luận giám định số 140/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 157 (một trăm năm mươi bảy) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật (có bản kê mệnh giá tiền và số seri kèm theo).
Ngày 03/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang đã ban hành Lệnh phong toả tài khoản số 211/LPT-CSĐT, phong toả số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) trong tài khoản số 2712205163007 tại Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện C, tỉnh Phú Thọ của Cao Thị Bích L.
Với chứng cứ và hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 39/CT-VKSBQ ngày 21/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Q, Phan Thị Thanh H2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố;
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
-
Về điều luật và hình phạt, đề nghị:
-
Về hình phạt chính:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; các Điều 17, 38, 50, 58; điểm h, i khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị Q;
+ Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Thị Bích Liên t 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/3/2024.
-
Về hình phạt chính:
-
+ Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/3/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; các Điều 17, 50, 58; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2;
+ Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thị Thanh H2 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.
-
Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tuyên tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau: 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có ghi chữ “HSL”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có chữ “GRS”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu nâu, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác gió dài tay màu xám, có khóa kéo ở giữa, trước ngực có chữ “NIKE”, đã qua sử dụng;
* Tuyên huỷ bỏ biện pháp phong toả tài khoản đối với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) là tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại Hạng Thị M đang được bảo quản trong tài khoản ngân hàng của bị cáo Cao Thị Bích L và trả lại cho bị hại theo quy định.
* Đề nghị trả lại cho bị hai Hạng Thị D số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) là số tiền các bị cáo Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 được bị cáo L chia sau khi chiếm đoạt của bị hại trong tổng số tiền là 11.547.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo Q, N, H2. Số tiền 4.547.000 đồng còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.
+ Trả lại bị cáo Cao Thị Bích L 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo, mặt lưng điện thoại màu xanh, mặt lưng và màn hình điện thoại có một số vết nứt, vỡ, đã qua sử dụng.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Q 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi màu xanh, đã qua sử dụng.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSXF1, màu đen, BKS 19G1-546.22, xe gắn hai gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng;
+ Trả lại bị cáo Phan Thị Thanh H2 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh 150i, màu xanh đen, BKS 90B2-032.06, xe có gắn một gương chiếu hậu bên trái (loại gương thấp), đèn xe phía trước có vết nứt vỡ, xe cũ đã qua sử dụng.
5. Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Q, Phan Thị Thanh H2 phải chịu án phí theo quy định.
Phần tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo đều nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị trong bản luận tội.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại và người làm chứng, nhưng trước đó họ đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng
mặt và có đầy đủ lời khai có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Q, Phan Thị Thanh H2 tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai và bản tự khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ như: Các biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật ngày 16/3/2024; Bản ảnh vật chứng; Sơ đồ vị trí các bị cáo tham gia lừa đảo chiếm đoạt tài sản do các bị cáo tự vẽ; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh xác định hiện trường ngày 17/3/2024; biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh thực nghiệm điều tra ngày 02/4/2024; Kết luận giám định số 140/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K, Công an tỉnh H, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 16/3/2024, tại tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Q, Phan Thị Thanh H2 đã cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác theo phương án đã bàn bạc thống nhất từ trước và đã chiếm đoạt số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng) của bà Hạng Thị D, sinh năm 1945, trú tại thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Do đó, các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Q, Phan Thị Thanh H2 phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang đã truy tố là có căn cứ.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây dư luận xấu và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật; song với động cơ, mục đích muốn chiếm đoạt tiền của người khác, các bị cáo đã lợi dụng người bán hàng là người già và là người dân tộc thiểu số, để tiếp cận thực hiện hành vi lừa đảo theo phương án đã phân công, bàn bạc thống nhất từ trước, nhằm đánh lạc hướng và làm cho người bán hàng không chú ý, mất tập trung, để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt trong vụ án này là 9.000.000 đồng, đã sử dụng chi tiêu ăn uống, xăng xe dọc đường còn lại chia đều cho mỗi cá nhân. Do đó, cần phải có một mức án phù hợp đối với mỗi bị cáo về hành vi phạm tội đã gây ra.
[5] Xét vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Cao Thị Bích L là người chủ mưu, khởi sướng, rủ rê các bị cáo cùng thực hiện
hành vi phạm tội, là người phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người; trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đối với người trên 70 tuổi và tại thời điểm phạm tội bị cáo là người đã có tiền án, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” và “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm h, điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2013 và năm 2020 đều bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “trộm cắp tài sản” và hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung và cũng cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo L cao hơn so với các bị cáo khác trong vụ án. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bị cáo có người thân là người có công với Nhà nước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cũng được xem xét giảm nhẹ khi áp dụng mức hình phạt.
[6] Bị cáo Nguyễn Thị Q là người có vai trò thứ hai, khi được bị cáo L rủ đi lên tỉnh Hà Giang để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Q đã rủ bị cáo Phan Thị Thanh H2 cùng tham gia. Trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đối với người trên 70 tuổi và tại thời điểm phạm tội bị cáo là người đã có tiền án, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” và “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm h, điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2010 và năm 2013 đều bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác” và hành vi “Cướp giật tài sản”. Năm 2017 bị kết án và bị xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Cướp giật tài sản”. Do đó, cần cách ly bị cáo Nguyễn Thị Q ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung và cũng cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn bị cáo L nhưng phải cao hơn so với các bị cáo khác. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bị cáo có người thân là người có công với Nhà nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cũng được xem xét giảm nhẹ khi áp dụng mức hình phạt.
[7] Bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò tham gia, giúp sức. Bị cáo Nguyễn Thị N là người có nhân thân không tốt, năm 2013 và năm 2020 bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản” và hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt
sản của người khác”, bị cáo đã chấp hành xong nhiều năm, tính đến thời điểm phạm tội đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.vụ án này các bị cáo Q và H2 đều thực hiện hành vi phạm tội đối với người trên 70 tuổi, nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Q và H2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, giai đoạn truy tố các bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra các bị cáo có người thân là người có công với Nhà nước nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo H2 là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và ngoài lần phạm tội này ra luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, quá trình sinh sống tại điạ phương đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ các điều kiện quy định tại Nghị quyết số 02/2018/HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét xử các bị cáo N, H2 mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, cũng đủ cũng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cũng cần căn cứ vào nhân thân của người phạm tội để áp dụng mức hình phạt đối với mỗi bị cáo cho phù hợp.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: Do hình phạt chính đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 là hình phạt tù nhưng được hưởng án treo, cần áp dụng Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh theo quy định cho bị cáo N, H2.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[10] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, đề nghị về tội danh, đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là hoàn toàn có cơ sở và đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại do bị ảnh hưởng về tinh thần là 10.000.000 đồng. Giai đoạn truy tố, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong khoản tiền thiệt hại về tinh thần cho
bị hại (mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.500.000 đồng), nay bị hại không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền của bị hại mà các bị cáo đã chiếm đoạt, giai đoạn điều tra bị hại Hạng Thị D yêu cầu trả lại 9.000.000 đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, số tiền này là vật chứng được thu giữ trong quá trình điều tra vụ án, nên cần được xử lý trả lại cho bị hại trong phần xử lý vật chứng.
[12] Về xử lý vật chứng: Đối với những vật chứng đã thu giữ được chuyển theo hồ sơ vụ án, trên cơ sở nghiên cứu tài liệu chứng cứ và quá trình thẩm vấn tranh tụng tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106; Điều 129 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý như sau:
[13] Tiếp tục phong tỏa tài khoản 2712205163007 mang tên Cao Thị Bích L, mở tại Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện C, tỉnh Phú Thọ, tịch thu số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) do liên quan đến hành vi phạm tội, để trả lại cho bị hại Hạng Thị D. Không áp dụng Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên huỷ bỏ biện pháp phong toả tài khoản của bị cáo L theo đề nghị của Viện kiểm sát.
[14] Trả lại bị hại Hạng Thị D số tiền 7.000.000 đồng (gồm số tiền đã thu giữ của Nguyễn Thị N 3.000.000 đồng và thu giữ của Nguyễn Thị Q 4.000.000 đồng) là số tiền có liên quan đến hành vi phạm tội (trong tổng số tiền 11.547.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Tiền vật chứng vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra ngày 16/3/2024 tại tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang”). Đối với số tiền còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 3.147.000 đồng; Trả lại bị cáo Phan Thị Thanh H2 số tiền 1.400.000 đồng;
[15] Đối với một số vật chứng là tài sản, đồ vật của các bị cáo đã thu giữ còn lại. Hội đồng xét xử, xác định số vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên toà các bị cáo đề nghị được trả lại là phù hợp, cần trả cho các bị cáo theo quy định. Không tiêu huỷ 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có ghi chữ “HSL”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có chữ “GRS”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu nâu, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác gió dài tay màu xám, có khóa kéo ở giữa, trước ngực có chữ “NIKE”, đã qua sử dụng, như Viện kiểm sát đã đề nghị.
[15] Trả lại bị cáo Cao Thị Bích L 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo, mặt lưng điện thoại màu xanh, mặt lưng và màn hình điện thoại có một số vết nứt, vỡ, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có ghi chữ “HSL”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu nâu, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Q 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia
màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi màu xanh, đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có chữ “GRS”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác gió dài tay màu xám, có khóa kéo ở giữa, trước ngực có chữ “NIKE”, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSXF1, màu đen, BKS 19G1-546.22, xe gắn hai gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Phan Thị Thanh H2 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh 150i, màu xanh đen, BKS 90B2-032.06, xe có gắn một gương chiếu hậu bên trái (loại gương thấp), đèn xe phía trước có vết nứt vỡ, xe cũ đã qua sử dụng.
[16] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; các Điều 17, 38, 50, 58; điểm h, điểm i khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị Q:
+ Xử phạt bị cáo Cao Thị Bích L 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/3/2024.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/3/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; các Điều 17, 50, 58; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 02 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Xử phạt bị cáo Phan Thị Thanh H2 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định
của Luật Thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cho bảo lĩnh đối với các bị cáo Nguyễn Thị N và Phan Thị Thanh H2.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106; Điều 129 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý như sau:
- Tiếp tục phong tỏa tài khoản 2712205163007 mang tên Cao Thị Bích L, mở tại Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện C, tỉnh Phú Thọ, tịch thu số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để trả lại cho bị hại Hạng Thị D.
- Trả lại bị hai Hạng Thị D số tiền 7.000.000 đồng gồm: Số tiền của Nguyễn Thị N 3.000.000 đồng và của Nguyễn Thị Q 4.000.000 đồng (Trong tổng số tiền 11.547.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Q được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Tiền vật chứng vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra ngày 16/3/2024 tại tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang").
- Trả số tiền đã thu giữ còn lại cho chủ sở hữu gồm: Trả lại bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 3.147.000 đồng; Trả lại bị cáo Phan Thị Thanh H2 số tiền 1.400.000 đồng;
- Trả lại tài sản, đồ vật cho các chủ sở hữu gồm: Trả lại bị cáo Cao Thị Bích L 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo, mặt lưng điện thoại màu xanh, mặt lưng và màn hình điện thoại có một số vết nứt, vỡ, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có ghi chữ “HSL”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu nâu, có mũ trùm đầu, đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Q 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi màu xanh, đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ trùm kín đầu, màu đỏ, trên mũ có chữ “GRS”, mũ có kính chắn gió trong suốt, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác gió dài tay màu xám, có khóa kéo ở giữa, trước ngực có chữ “NIKE”, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSXF1, màu đen, BKS 19G1-546.22, xe gắn hai gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Phan Thị Thanh H2 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh 150i, màu xanh đen, BKS 90B2-032.06, xe có gắn một gương chiếu hậu bên trái (loại gương thấp), đèn xe phía trước có vết nứt vỡ, xe cũ đã qua sử dụng.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang).
- Về án phí: Áp dụng Điều 3, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Cao Thị Bích L, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị N, Phan Thị Thanh H2 mỗi bị cáo phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án sao hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đàm Thị Tư |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Bích L + ĐP - Phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
