|
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 06/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tịnh
Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hóa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Huấn - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 23/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tòng Văn B Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 30/4/1992; tại: Xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân Tộc: Lào; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Tòng Văn T (đã chết); con bà Lò Thị H, sinh năm 1958. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Vợ: Quàng Thị T1, sinh năm 1994 (đã ly hôn), con: 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân:
Tại Bản án số 29/2012/HS-ST ngày 23/3/2012, Toà án nhân dân huyện Tam Đường căn cứ khoản 1 Điều 135; điểm p khoản 1, 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 20, Điều 53/BLHS năm 1999 xử phạt Tòng Văn B 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, bị cáo đã được xóa án tích theo quy định. Tại Bản án số 23/2017/HSST ngày 28/8/2017, Toà án nhân dân huyện Tam Đường căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 41, Điều 53 BLHS năm 1999 xử phạt Tòng Văn B 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bị cáo chấp hành xong, hiện bị cáo đã được xóa án tích theo quy định; Ngày 29/11/2016 Tòng Văn B bị Trưởng Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền số tiền 2.500.000 đồng về hành vi: Cố ý gây thương tích. Ngày 30/11/2016 B đã chấp hành xong, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo Tòng Văn B bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Xa C, sinh năm 1994, trú tại: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt)
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
- Chị Lò Thị N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý do)
- Chị Vì Thị C1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý do)
- Anh Hồ Seo B1, sinh năm 2004. Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Tạm trú: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý do)
* Điểm cầu thành phần: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L gồm có:
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N1, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 14 giờ ngày 17/4/2024, Tòng Văn B sinh năm 1992 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng, mang biển kiêm soát 25B1-816.03 (xe mô tô biển kiểm soát 25B1-816.03 là tài sản chung của B với Vàng Xa C, sinh năm 1994 trú tại bản Phiêng Giằng, xã N, huyện T) đi từ nhà đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến đoạn đường ngã ba đường rẽ vào bản N, xã B, B gặp một người đàn ông giống người nghiện ma túy nên B đã hỏi mua ma túy của người này. Qua trao đổi, B đưa cho người đàn ông này 5.000.000 VNĐ để mua Heroine và 500.000 VNĐ để mua hồng phiến, cầm tiền B đưa người đàn ông đi về hướng bản Nà Đon, xã B, còn B đứng đợi ở đây. Được khoảng 20 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho B một gói ma túy được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu, bên trong có 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu vàng, đốt dính một đầu và 01 gói chứa 06 viên nén màu hồng được gói bằng nilon màu xanh đốt dính một đầu. Mua được ma túy B cầm trong lòng bàn tay trái, một mình điều khiển xe mô tô đi về nhà, còn người đàn ông bán ma túy cho B đi đâu B không biết.
Vào hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến đường liên xã N đi xã B thuộc bản P, xã N, Tòng Văn B gặp tổ tuần tra kiểm soát Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện T đang làm nhiệm vụ, khi Tổ công tác ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, do đang tàng trữ trái phép chất ma túy, sợ bị phát hiện Tòng Văn B ném gói ma túy đang cầm trên tay trái xuống bãi đất trống cạnh đường của gia đình ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1989 trú tại bản Km 2, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu thuộc bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu gói ma túy rơi cách vị trí Bun 13,1 mét thì bị tổ công tác phát hiện. Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện T đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cùng các Cơ quan chức năng tiến khám nghiệm hiện trường, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số: 24/KLGĐ ngày 17/4/2024 của ông Phan Văn H1 - Người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 17/4/2024 có khối lượng là 11,25 gam (mười một phẩy hai mươi lăm gam); Số viên nén màu hồng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 17/4/2024 có khối lượng là 0,63 gam (không phẩy sáu mươi ba gam); Số chất bột màu trắng và viên nén màu hồng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 17/4/2024 có tổng khối lượng là: 11,88 gam (Mười một phẩy tám mươi tám gam).
Tại bản Kết luận giám định số: 447/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. 01 (một) mẫu chất bột, màu trắng (Ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản Kết luận giám định số: 256/24/KLGÐADN-PYQG ngày 26/4/2024 của V2 – Bộ Y kết luận: ADN thu từ mảnh ni lông màu xanh (ngoài cùng) có hiện diện đầy đủ các alen của Tòng Văn B trên tất cả các locus STR đã so sánh.
Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTĐ, ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Tòng Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vàng Xa C trình bày: Chị V1 Xa Chay chung sống như vợ chồng với bị cáo Tòng Văn B, chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha, màu trắng, mang biển kiểm soát 25B1-816.03 là tài sản chung của chị C và bị cáo Tòng Văn B, khi bị cáo Tòng Văn B lấy xe đi chị C không biết bị cáo đi đâu, làm gì. Chị C nhất trí để Hội đồng xét xử tịch thu chiếc xe trên sung ngân sách Nhà nước. Ngoài ra chị C không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tòng Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tòng Văn B từ 06 năm đến 07 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 03/5/2024. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 11,12 gam Heroine; 0,32 gam Methamphetamine, vỏ phong bì niêm phong ban đầu, túi nilon đựng vật chứng ban đầu; 01 (một) mảnh nilon màu vàng gói số chất bột màu trắng ban đầu và 01 mảnh nilon màu xanh gói 06 viên nén màu hồng ban đầu và 01 mảnh nilon màu xanh gói hai gói ban đầu. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha màu trắng, mang biển kiểm soát 25B1 - 816.03.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tòng Văn B và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đối đáp: Đối với đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của người bào chữa, Kiểm sát viên cho rằng với mức án mà Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với tính chất hành vi phạm tội, với nhân thân của bị cáo nên Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp có tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo Tòng Văn B không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Tòng Văn B xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Tòng Văn B đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại đường liên xã N đi xã B thuộc bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu. Tòng Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 11,25 gam và 06 viên Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,63 gam mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp thực hiện thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện T phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ- CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Tổng khối lượng chất ma túy Tòng Văn B tàng trữ trái phép để sử dụng là 11,88 gam (Mười một phẩy tám mươi tám gam).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Tòng Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Tòng Văn B có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính và đã hai lần bị Tòa án xét xử đi chấp hành án chịu sự giáo dục nghiêm khắc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Tòng Văn B. Đối với yêu cầu của người bào chữa đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với bị cáo cần có mức án tương xứng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với 0,31 gam Methamphetamine và 0,13 gam heroine (trích trong tổng số 11,88 gam ma túy thu giữ của Tòng Văn B) đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 11,12 gam Heroine; 0,32 gam Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, vỏ phong bì niêm phong ban đầu, túi nilon đựng vật chứng ban đầu, 01 (một) mảnh nilon màu vàng gói số chất bột màu trắng ban đầu và 01 mảnh nilon màu xanh gói 06 viên nén màu hồng ban đầu và 01 mảnh nilon màu xanh gói hai gói ban đầu là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cân tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha màu trắng, mang biển kiểm soát 25B1 - 816.03 là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[6] Những vấn đề liên quan:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Tòng Văn B, do nhân thân, lai lịch của người này không rõ ràng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý trong cùng vụ án.
Đối với Vàng Xa C sinh năm: 1994 trú tại bản P, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu là đồng chủ sở hữu chung xe mô tô BKS: 25B1 - 816.03, việc B sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, C không biết nên V1 Xa Chay không đồng phạm với Tòng Văn B về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
[7] Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn B đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo Tòng Văn B là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Tòng Văn B thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Tòng Văn B 06 (S) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/5/2024.
3. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 11,12 gam Heroine; 0,32 gam Methamphetamine, vỏ phong bì niêm phong ban đầu, túi nilon đựng vật chứng ban đầu; 01 (một) mảnh nilon màu vàng gói số chất bột màu trắng ban đầu và 01 mảnh nilon màu xanh gói 06 viên nén màu hồng ban đầu và 01 mảnh nilon màu xanh gói hai gói ban đầu.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha màu trắng, mang biển kiểm soát 25B1 - 816.03.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 11/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn B.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Thị Tuyết |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
