TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS – PT Ngày: 20/8/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hòa;
Ông Ngô Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLPT – HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Nhân T và Trần Thị Thúy A do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 112/2024/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Nhân T, sinh năm 1972; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; tổ chức đoàn thể: không; con ông Nguyễn Nhân N, đã chết; con bà Nguyễn Thị C, đã chết; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1995; con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: không.
- Trần Thị Thúy A, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Áp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: lao động tự do; tổ chức đoàn thể: không; con ông Trần Văn D, đã chết; con bà Ngô Thị H, sinh năm 1957; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1983; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2023 đến ngày 09/6/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 09/6/2023 đến nay, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhân T:
Luật sư Trần Văn V, Chu Quỳnh V1 (có mặt); Luật sư Tạ Thị P (vắng mặt) - Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố H.
Trong vụ án này còn có 02 bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác tuy nhiên đều không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 50 phút ngày 31 tháng 5 năm 2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố B phối hợp với Công an phường V kiểm tra hành chính cơ sở M tại tầng 03 khách sạn P2, địa chỉ: khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh do Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968, HKTT: Ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng làm quản lý và phát hiện tại các phòng 01, 02, 03, 04 có 04 đôi nam nữ đang mua bán dâm như sau:
Tại phòng 01 gồm: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1988, HKTT: Khu A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1997, HKTT: ấp H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Tại phòng 02 gồm: Phạm Văn L, sinh năm 1999, HKTT: Khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và Vi Thị Ngọc Á, sinh năm 1994, HKTT: Thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An.
Tại phòng 03 gồm: Nguyễn Quốc H2, sinh năm 1985, HKTT: Khu B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang và Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1990, HKTT: Áp Thanh Lợi, xã H, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Tại phòng 04 gồm: Trần Văn S, sinh năm 1984, HKTT: Khu B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và Thào Thị D1, sinh năm 2001, HKTT: Thôn M, xã Q, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, các đối tượng khai nhận như sau:
Trung tâm D2, địa chỉ: khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh do anh Lương Quốc T4, sinh năm 1977, HKTT: thôn T, xã Y, huyện G, thành phố Hà Nội làm giám đốc, theo giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 2300183340-002 do Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh B cấp. Trung tâm có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 101 ngày 14/8/2017 của Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B để làm ngành nghề dịch vụ lưu trú, xoa bóp karaoke.
Ngày 15/7/2020, anh T4 có ủy quyền theo Giấy ủy quyền cho Nguyễn Thị Thu B, sinh năm 1973, HKTT: xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang về việc trực tiếp kinh doanh, quản lý, điều hành dịch vụ xông hơi massage tại tầng 3 trung tâm khách sạn. Hàng tháng, Công ty sẽ trả bằng tiền mặt cho Nguyễn Thị Thu B 60.000 đồng/1 vé massage. Từ khoảng tháng 10 năm 2022, Ba thuê Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968, HKTT: Ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (không có hợp đồng) làm nhiệm vụ quản lý, điều hành nhân viên massage giúp Ba, với mức lương là 10.000.000 đồng/1 tháng. Đến tháng 10/2022, Ba về quê ở tỉnh Hậu Giang (do mẹ Ba ốm) nên H1 là người trực tiếp quản lý, điều hành chung khu vực massage tại tầng 3 khách sạn P2. Theo lời khai của H1: trong khoảng thời gian này, H1 không cần báo cáo cụ thể với B về việc điều hành nhân viên massage, H1 trực tiếp quản lý, khi nào Ba hỏi thì mới thông báo số lượng vé. H1 thuê Nguyễn Văn T2, sinh năm 1983, HKTT: Á, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang và Trần Thị Thúy A (vợ T2), sinh năm 1992, HKTT: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang làm nhiệm vụ quản lý trực tiếp nhân viên ăn ở, trong trường hợp H1 vắng mặt thì T2 hoặc A thay H1 nghe điện thoại quản lý, sắp xếp nhân viên đi massage. H1 lập một cuốn sổ để sắp xếp thứ tự nhân viên đi làm, nếu không có H1 ở đây thì T2, A hoặc nhân viên có thể tự nhìn sổ lần lượt theo số thứ tự đã sắp xếp. Từ tháng 10/2022 đến nay, H1 là người trực tiếp tuyển dụng các nhân viên massage, những nhân viên này đa phần không có chứng chỉ hành nghề massage. H1 và các nhân viên thỏa thuận bằng lời nói là khi đến làm tại tầng 3 khách sạn P2, các nhân viên sẽ ăn ở tại tầng 2 khách sạn, phải đóng 5.000.000 tiền cọc, làm đủ 1 năm sẽ trả lại tiền cọc, hàng tháng mỗi người phải đóng 5.000.000 đồng tiền ăn uống cho T2, A và 1.000.000 đồng tiền điện nước cho H1. Sau đó, H1 chuyển 650.000 đồng/1 nhân viên/1 tháng vào tài khoản cho Nguyễn Thị Thu B. H1 nói với các nhân viên về việc các nhân viên không được trả lương, không được ăn chênh lệch tiền vé massage, mà chỉ được hưởng số tiền khách bo hoặc tiền khách cho khi nhân viên bán dâm. H1 còn thỏa thuận với các nhân viên làm trong thời gian từ 12 giờ trưa đến 12 giờ đêm, ăn ở tại tầng 1 2 khách sạn, không được tự ý đi ra khỏi khách sạn, phải được sự cho phép của H1 hoặc Ba.
Tại quầy bán vé, khoảng đầu tháng 5/2023, anh T4 thuê Nguyễn Nhân T, sinh năm 1972, HKTT: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh với nhiệm vụ đứng ở quầy lễ tân đón khách có nhu cầu massage, bán vé thu tiền, sắp xếp phòng, gọi điện qua điện thoại nội bộ cho nhóm của H1 - bộ phận quản lý nhân viên để điều nhân viên lên phòng massage cho khách. Giá vé niêm yết gồm dịch vụ có bồn tắm sục giá 350.000 đồng, không có bồn tắm là 250.000 đồng. Quá trình làm việc ở đây, T biết được các nhân viên massage không được hưởng lương mà chỉ được hưởng từ tiền bo của khách hoặc tiền bán dâm cho khách nhưng T vẫn để các nhân viên bán dâm cho khách.
Vào khoảng 18 giờ ngày 31 tháng 5 năm 2023, Nguyễn Văn T3; Phạm Văn L; Nguyễn Quốc H2; Trần Văn S có nhu cầu mua dâm nên đã rủ nhau đến cơ sở Massage tại tầng 03, khách sạn P2. Tại đây, Trần Văn S bảo Nguyễn Nhân T sắp xếp cho 04 phòng xông hơi, thư giãn, và "xả" (“xả” tức là quan hệ tình dục). T hiểu là S muốn massage và mua dâm nên trả lời “Vé vào phòng để massage là 350.000 đồng/người, muốn quan hệ tình dục thì vào phòng tự thoả thuận, đưa tiền cho nữ nhân viên để mua bán dâm”. Sự đưa số tiền 1.400.000 đồng là tiền 04 vé massage cho T, T nhận tiền và sắp xếp để Nguyễn Văn T3 vào phòng số 01, Phạm Văn L vào phòng số 02, Nguyễn Quốc H2 vào phòng số 03 và Trần Văn S vào phòng số 04. Sau đó, T dùng điện thoại bàn tại bàn lễ tân, bấm gọi số nội bộ 3304 xuống phòng nhân viên nữ ở tầng 02 của khách sạn P2 để lấy nhân viên đi massage. Lúc này, do H1 đi vắng từ ngày 27/5/2023, T2 đang bận việc nên Trần Thị Thúy A đã nghe điện thoại và được T thông báo đưa 04 nhân viên đi massage. Sau đó, A bảo chồng là Nguyễn Văn T2 gọi nhân viên đi massage. A và T2 cùng hiểu là nhân viên đi massage sẽ bán dâm cho khách. Thời gọi 04 nữ nhân viên gồm: Nguyễn Thị Kiều O; Vi Thị Ngọc Á; Nguyễn Thị Ú và Nguyễn Thị Cẩm P1, sinh năm 2002, HKTT: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang lên tầng 03, khách sạn P2 massage cho khách. Do đã có thỏa thuận từ trước với H1 nên O, Á, Ú và P1 đều hiểu là đi massage, sau đó sẽ mua bán dâm với khách nên O, Á, út, P1 đã tự chuẩn bị bao cao su.
Khi các nhân viên nữ tới, T sắp xếp cho O vào phòng số 01 với T3; Ái vào phòng số 02 với L; Ú vào phòng số 03 với H2 và P1 vào phòng số 04 với S. Được khoảng 10 phút, S đi ra yêu cầu Trọng đổi nhân viên khác và đưa cho T 200.000 đồng. T hiểu là P1 không đồng ý quan hệ tình dục nên gọi điện cho A bảo đổi nhân viên khác. A tiếp tục báo lại cho T2, sau đó T2 bảo Thào Thị D1 đi massage cho S tại phòng số 04. Khi các đối tượng đang mua bán dâm với nhau thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố B phối hợp với Công an phường V kiểm tra hành chính bắt quả tang
Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HSST ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhân T, Trần Thị Thúy A phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Nhân T, xử phạt Nguyễn Nhân T 05 năm 02 tháng (năm năm hai tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2023 đến ngày 09/6/2023.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Thúy A, xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy A 36 tháng (ba mươi sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo H1, T2, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 03/4/2024, bị cáo Trần Thị Thúy A kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 04/4/2024, bị cáo Nguyễn Nhân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo T, A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo T cho rằng hình phạt 05 năm 02 tháng tù mà án sơ thẩm đã tuyên là nặng nên bị cáo muốn Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo A thấy mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tuy nhiên do hoàn cảnh gia đình và điều kiện sức khỏe của bản thân nên bị cáo muốn Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để điều trị bệnh và chăm sóc gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo T và A không tham gia tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị HĐXX xem xét bị cáo T thành khẩn khai báo, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi ngày 31/5/2023 là 200.000 đồng. Bản thân bị cáo chưa được hưởng lương từ khi về làm tại Trung tâm du lịch, văn hóa thể thao D2; bị cáo hạn chế về trình độ học vấn, có nhân thân tốt, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức. Do vậy đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Nhân T, Trần Thị Thúy A có kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo T, A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Văn H1 có nhiệm vụ quản lý, điều hành nhân viên tại khu vực dịch vụ xông hơi masage tầng 3 khách sạn P2. Quá trình điều hành H1 trực tiếp tuyển nhân viên nữ phục vụ cơ sở massage. Khi tuyển, H1 đã thỏa thuận với các nhân viên sẽ không được nhận lương mà chỉ được hưởng lợi từ tiền bo của khách và tiền các nhân viên bán dâm khi khách có nhu cầu. H1 thuê Nguyễn Văn T2 và Trần Thị Thúy A để giúp việc cho H1. Thời và A làm nhiệm vụ nấu ăn cho nhân viên và điều động, sắp xếp nhân viên khi H1 vắng mặt. Từ tháng 5/2023, Nguyễn Nhân T làm nhiệm vụ bán vé Massage thông báo số lượng nhân viên, sắp xếp phòng cho khách. Quy trình điều động và chứa chấp nhân viên bán dâm được thực hiện như sau:
Khi có khách đến massage sẽ mua vé tại quầy của Nguyễn Nhân T. Tại đây T thỏa thuận với khách sau khi mua vé massage mà có nhu cầu mua dâm thì tự thỏa thuận với nhân viên trong phòng massage. Sau khi xếp phòng cho khách, T gọi điện nội bộ cho Nguyễn Văn H1 để điều nhân viên lên phòng massage và bán dâm cho khách (nếu H1 vắng mặt thì T2 và A là người điều nhân viên theo sổ và quy tắc H1 đề ra). Theo sự điều động của H1, nhân viên sẽ lên khu vực massage và được T xắp xếp vào phòng massage cho khách. Nhân viên sẽ bán dâm luôn trong phòng massage nếu khách có yêu cầu. Việc bán dâm của nhân viên thì H1, T2, A và T đều biết. Quá trình nhân viên bán dâm, T sẽ không đi kiểm tra phòng massage mà chỉ gọi khi hết thời gian massage theo quy định.
Với quy trình trên, ngày 31/5/2023, Nguyễn Nhân T, Nguyễn Văn T2 và Trần Thị Thúy A đã điều 04 nhân viên lên bán dâm tại khu dịch vụ Massage tầng 3 khách sạn P2 cụ thể: Nguyễn Thị Kiều O bán dâm cho Nguyễn Văn T3, Vi Thị Ngọc Á bán dâm cho Phạm Văn L, Nguyễn Thị Ú bán dâm cho Nguyễn Quốc H2, Thào Thị D1 bán dâm cho Trần Văn S.
Do vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Nhân T và Trần Thị Thúy A phạm tội “Chứa mại dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, tạo điều kiện cho tệ nạn mại dâm phát triển gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, bản sắc, nếp sống văn hóa của người Việt. Mại dâm còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác, làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm. Do đó, cần thiết có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Nhân T, HĐXX nhận thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò, đánh giá mức độ, tính chất, hành vi nguy hiểm của các bị cáo đối với xã hội đồng thời xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đáng kể nào mới để HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần bác kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Thúy A, HĐXX nhận thấy: Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò, đánh giá mức độ, tính chất, hành vi nguy hiểm của bị cáo đối với xã hội đồng thời xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái, bị cáo đã có công trong việc tố giác tội phạm, khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan điều tra. Đây là những tình tiết quy định tại điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ đáng kể nào mới để HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần bác kháng cáo của bị cáo A, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Bị cáo T, A phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhân T, Trần Thị Thúy A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136, 347 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí;
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Nhân T:
Xử phạt: Nguyễn Nhân T 05 năm 02 tháng (Năm năm hai tháng) tù về tội “Chứa mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2023 đến ngày 09/6/2023.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị Thúy A
Xử phạt: Trần Thị Thúy A 36 tháng (ba mươi sáu tháng) tù về tội “Chứa mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024.
Quyết định bắt và tạm giam các bị cáo Nguyễn Nhân T, Trần Thị Thúy A mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Các bị cáo Nguyễn Nhân T, Trần Thị Thúy A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Trường |
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Nguyễn Trọng Trường |
Bản án số 45/2024/HS – PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự (chứa mại dâm)
- Số bản án: 45/2024/HS – PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa mại dâm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Nhân T, Trần Thị Thúy A phạm tội “Chứa mại dâm”
