|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS-PT Ngày: 10 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư
Ông Hồ Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 87/2024/TLPT-HS ngày 05/8/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhật L và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Nhật L, Nguyễn Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Thị Nhật L; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 12/10/1990 tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ E, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công chức - Chuyên viên thuế, Chi cục T4 (hiện đang bị tạm đình chỉ công tác). Con ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1964; Con bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1971; Chồng: Nguyễn Thành T, sinh năm 1990; Nghề nghiệp: Công chức. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/7/2023 được thay thế biện pháp Bảo lĩnh. Ngày 25/12/2023, bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Thị H; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1992, tại xã V, huyện T, Hà Tĩnh. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bị cáo là Đảng viên Đ1, sinh hoạt tại Chi bộ thôn T, xã V, huyện T, hiện đã bị Ủy ban kiểm tra Huyện ủy T5 ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng. Con ông Nguyễn Sỹ C1, sinh năm: 1949; Con bà Dương Thị H1, sinh năm: 1952. Chồng: Nguyễn Đình N, sinh năm: 1985; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 16/12/2022, đến ngày 25/12/2022 được áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Nhật L: Luật sư Nguyễn Khắc T1 và Luật sư Nguyễn Thị Q – Văn Phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư H4. vắng mặt.
Bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Vương Tuấn T2, Hồ Thị Thanh H2, Hồ Thị D, Trần Văn H3, Trần Thị Thu T3 (đều vắng mặt).
Những người khác không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Nhật L là công chức công tác tại Chi cục thuế khu vực T4 - L. Từ ngày 04/01/2022, L được phân công nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ theo cơ chế một cửa liên thông của Chi cục thuế tại Trung tâm hành chính công huyện T, có nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý và chuyển hồ sơ đến Đội nghiệp vụ quản lý thuế, tính thuế với một số hồ sơ được phân công và trả kết quả cho người dân. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ nộp thuế liên quan đến thủ tục đất đai, Nguyễn Thị Nhật L quen biết với Nguyễn Thị H – là người thường có mặt tại trung tâm hành chính C để làm dịch vụ cho người dân có nhu cầu thực hiện các thủ tục kê khai, nộp thuế và các thủ tục hành chính khác.
Lợi dụng chức năng, nhiệm vụ được giao và tâm lý người dân luôn lo sợ bị cơ quan Thuế gây khó khăn trong quá trình nộp thuế liên quan đến chuyển nhượng đất khi giá mua bán ghi trong hợp đồng thấp hơn giá mua bán thực tế và tâm lý muốn quá trình làm hồ sơ được nhanh chóng, thuận lợi của người dân, giữa L và H đã cùng nhau thống nhất về việc nhận tiền từ người dân để “làm nhanh” (nghĩa là người dân không phải nộp hồ sơ tính thuế, không phải tự mình kê khai thuế, không phải đi nộp tiền thuế mà H và Lệ tự thực hiện) với số tiền Lệ được hưởng là 300.000 đồng/hồ sơ và tiền “cơ chế” thuế (được hiểu là một mức tiền nhất định, đóng riêng cho cán bộ thuế để được bỏ qua việc tuyên tuyền người dân chống kê khai không đúng với giá trị thực tế, đồng thời người dân không phải nộp hồ sơ tính thuế, không phải tự mình kê khai thuế, không phải đi nộp tiền thuế mà thông qua bị cáo H thực hiện kê khai, nộp thay không cần có Giấy ủy quyền) L được hưởng là 1.500.000 đồng/hồ sơ. Còn số tiền H được hưởng tùy thuộc vào chênh lệch trong số tiền ban đầu nhận từ người dân. Về số tiền ngoài quy định thì H là người chủ động đặt vấn đề và được L đồng ý rồi cùng nhau thực hiện. Với sự thống nhất nói trên, cách thức H và L đã thực hiện như sau:
Khi nhận lời của người dân về việc “làm nhanh” và “cơ chế” thuế liên quan đến giai đoạn kê khai, nộp thuế thì người dân sẽ đưa cho H các thủ tục theo quy định bắt buộc. Sau đó, H sẽ tự mình kê khai các loại thuế theo mẫu rồi nộp kèm theo các loại giấy tờ theo quy định cho L. Theo đó, người dân không phải trực tiếp làm các thủ tục để nộp thuế mà L để H làm thay.
Do đã có sự thống nhất từ trước nên hồ sơ nào có dấu hiệu chênh lệch giá mua bán thực tế cao hơn giá ghi trong hợp đồng thì người dân sẽ phải chi số tiền “cơ chế” thuế là 1.500.000 đồng, hồ sơ nào chỉ “làm nhanh” người dân phải chi số tiền 300.000 đồng cho L. Sau khi nhận hồ sơ, L và H sẽ trao đổi hồ sơ nào phải làm “cơ chế” thuế, hồ sơ nào “làm nhanh” rồi H sẽ thông báo lại với người dân về chi phí ngoài quy định, nếu người dân đồng ý thì H báo lại cho L nhận làm. Để H báo chính xác số tiền mà người dân phải chuyển thì khi nhập vào phần mềm tính thuế, L sẽ chụp màn hình máy tính số thông tin, số tiền thuế trước bạ, thu nhập cá nhân tương ứng tên người dân ghi trong hợp đồng mua bán đất phải nộp gửi qua tin nhắn Zalo cho H để H biết số tiền thuế mỗi hồ sơ đã được tính và H sẽ thông báo lại cho người dân biết chính xác số tiền thuế phải đưa cho H. Số tiền này (bao gồm thuế theo quy định và tiền ngoài quy định) người dân có thể chuyển tiền cho H trước hoặc sau khi đã xong việc nộp thuế. Khi đã thống nhất số lượng hồ sơ nhận từ H thì L sẽ tập hợp hồ sơ rồi tự mình tính thuế theo quy định với các hồ sơ đó rồi nhập thông tin vào phần mềm tính thuế, in Thông báo nộp thuế, B kê nộp tiền thuế rồi tự mình trình ký Đào Anh K là Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T4 - L. Sau khi hồ sơ đã được ký duyệt Thông báo nộp thuế thì L sẽ tự mang theo Bảng kê nộp tiền đến Ngân hàng B1, Phòng giao dịch thành phố H để nộp tiền thuế của các bộ hồ sơ đã nhận lời với H mà không có Giấy ủy quyền. Số tiền nộp thuế do L dùng tiền có sẵn trong tài khoản nộp trước rồi cuối ngày sẽ nhận lại bằng hình thức chuyển khoản từ H bao gồm tiền thuế và tiền ngoài quy định như đã thống nhất từ trước đó với H.
Sau đó, Nguyễn Thị Nhật L sẽ tự nộp thuế thay cho người dân rồi mang Giấy đã nộp tiền kèm theo Thông báo nộp thuế đưa cho H để H nộp lại cho bộ phận một cửa Văn phòng Đ2 chi nhánh T6 - L để thực hiện quy trình tiếp theo.
Vào cuối ngày, L lập bảng tính Excel trên máy tính theo thứ tự tiền thuế thu nhập cá nhân đến tiền thuế trước bạ của lần lượt từng bộ hồ sơ; đồng thời tạo thêm 02 cột tính, gồm cột dưới cùng là tiền “cơ chế” (mỗi bộ 1.500.000 đồng, có thể gộp nhiều bộ) và một cột là tiền công nộp thay thuế (thường gọi là làm nhanh mỗi bộ 300.000 đồng, có thể là gộp nhiều bộ). Căn cứ vào bảng tính này, H sẽ chuyển khoản cho L đúng bằng số tiền Lệ đã tính bao gồm tiền thuế theo quy định của Nhà nước và tiền ngoài quy định kèm theo. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2022, Nguyễn Thị Nhật L đã 06 lần (1 lần trên 10.000.000 đồng, 5 lần khác đều dưới 10.000.000 đồng) nhận tiền trái quy định, gây thiệt hại về tài sản của người dân tổng số tiền 35.130.000 đồng và hưởng lợi số tiền 24.000.000 đồng.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị H mặc dù không phải là cán bộ, viên chức nhà nước nhưng do trước đó đã từng làm hợp đồng tại Trung tâm hành chính công huyện T, lợi dụng mối quan hệ quen biết với các đối tượng nêu trên nên bị cáo H đã nhận tiền của người dân sau đó móc nối với các đối tượng được giao thực hiện “làm nhanh” các thủ tục hành chính cho người dân trái quy định. Hành vi giúp sức của bị cáo H được thực hiện nhiều lần cho từng bị cáo độc lập, trong đó 10 lần giúp sức cho 04 bị cáo Nguyễn Thị Nhật L, Hồ Thị D, Trần Văn H3, Trần Thị Thu T3 thực hiện hành vi lợi dụng chứ vụ, quyền hạn, làm trái công vụ, nhận trái quy định tổng số tiền 58.400.000 đồng, trong đó có 02 lần trên 10.000.000 đồng (1 lần giúp sức cho bị cáo L, 1 lần giúp sức cho bị cáo H3), hưởng lợi số tiền 16.300.000 đồng. Nguyễn Thị H đã có 10 lần đồng phạm giúp sức cho các bị cáo thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm trái công vụ với tổng số tiền là 58.400.000 đồng, trong đó có 2 lần đồng phạm giúp sức trên 10.000.000 đồng (1 lần với Nguyễn Thị Nhật L và 1 lần với Trần Văn H3), thu lợi bất chính tổng số tiền: 16.300.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 34/2024/HS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Nhật L, Vương Tuấn T2, Hồ Thị Thanh H2, Hồ Thị D, Trần Văn H3, Trần Thị Thu T3, Nguyễn Thị H phạm tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ".
- Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b,s,n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ (từ ngày 16/12/2022, đến ngày 25/12/2022).
- Căn cứ khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,3 Điều 54, Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị Nhật L 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/7/2023).
- Căn cứ khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Vương Tuấn T2 10 (mười) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Hồ Thị Thanh H2 08 (tám) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,3 Điều 54, Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Hồ Thị D 08 (tám) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,3 Điều 54, Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn H3 08 (tám) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,3 Điều 54, Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Thị Thu T3 06 (sáu) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, bị cáo Nguyễn Thị Nhật L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, Nguyễn Thị H xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Nhật L; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa bản án sơ thẩm.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2022 xảy ra tình trạng “sốt đất” tại địa bàn huyện T, số lượng người dân làm thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất tăng cao đột biến. Hồ sơ tiếp nhận tại bộ phận một cửa UBND huyện và UBND các xã tăng cao, lợi dụng nhu cầu làm thủ tục nhanh của người dân, các bị cáo Nguyễn Thị Nhật L, Vương Tuấn T2, Hồ Thị Thanh H2, Hồ Thị D, Trần Thị Thu T3 và Trần Văn H3 đã lợi dụng nhiệm vụ quyền hạn của mình, tự mình hoặc có sự giúp sức của bị cáo Nguyễn Thị H làm trái công vụ, nhận tiền ngoài quy định của một số người dân để giải quyết thủ tục nhanh hơn so với các hồ sơ tiếp nhận thông thường bằng cách can thiệp vào các giai đoạn khác nhau mà không được phân công phụ trách (ví dụ như thẩm định, phê duyệt hồ sơ, nộp thuế....). Việc làm này diễn ra trong thời gian khá dài và trở thành một “thông lệ”, gây thiệt hại về tài sản của người dân, đồng thời làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan Nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Thị Nhật L đã có hành vi nhận tiền trái quy định, gây thiệt hại về tài sản của người dân tổng số tiền 35.130.000 đồng và hưởng lợi số tiền 24.000.000 đồng. Nguyễn Thị H lợi dụng mối quan hệ quen biết với các bị cáo nên H đã nhận tiền của người dân sau đó móc nối với các đối tượng được giao thực hiện “làm nhanh “các thủ tục hành chính cho người dân trái quy định.
Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý vì vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Nhật L đủ yếu tố cấu thành tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Thị H là giúp sức cho các bị cáo về hành vi Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 356 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung là “phạm tội 02 lần trở lên” với vai trò giúp sức. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và khung hình phạt trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét vai trò của từng bị cáo: Nguyễn Thị Nhật L đã 06 lần (1 lần trên 10.000.000 đồng, 5 lần khác đều dưới 10.000.000 đồng) nhận tiền trái quy định, gây thiệt hại về tài sản của người dân tổng số tiền 35.130.000 đồng và hưởng lợi số tiền 24.000.000 đồng; Nguyễn Thị H đã có 10 lần đồng phạm giúp sức cho các bị cáo thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm trái công vụ với tổng số tiền là 58.400.000 đồng, trong đó có 2 lần đồng phạm giúp sức trên 10.000.000 đồng, thu lợi bất chính tổng số tiền: 16.300.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản cho các cá nhân, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan Nhà nước; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
- [3] Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp lại trên ½ số tiền nhận trái quy định, thu lợi bất chính nhằm khắc phục hậu quả quy định tại điểm b, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Nguyễn Thị H khi thực hiện hành vi phạm tội là phụ nữ có thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, các bị cáo đều đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Nguyễn Thị H có bố đẻ là ông Nguyễn Sỹ C1, mẹ đẻ là bà Dương Thị H1 được cấp giấy chứng nhận “Tham gia dân công hỏa tuyến”, Nguyễn Thị H còn tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, được nhiều người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới:
Bị cáo Nguyễn Thị Nhật L nộp đơn trình bày đang nuôi hai con nhỏ (cháu nhỏ nhất sinh năm 2020), bố chồng bị cáo được tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhì, hạng 3; bị cáo có thành tích trong công tác được Cục T7. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị Nhật L đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ tại biên lai số 0006380 ngày 19/6/2024, nộp tiền phạt bổ sung 10.000.000đ tại biên lai số 0003511 ngày 29/8/2024. Bị cáo Nguyễn Thị H nộp đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ già yếu, hai con bị cáo còn nhỏ (cháu nhỏ nhất 10 tháng tuổi), những người liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ tại biên lai số 0006385 ngày 19/6/2024, nộp tiền phạt bổ sung 12.500.000đ tại biên lai số 0003513 ngày 05/9/2024. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi của mình và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Xét các bị cáo là phụ nữ, có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ rất cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ nên cần giảm nhẹ cho các bị cáo một phần để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện để các bị cáo sớm trở về chăm lo cho gia đình, nuôi dạy con cái. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhật L 06 tháng 25 ngày tù, Nguyễn Thị H 21 tháng tù.
- [4]. Về án phí: Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Nhật L; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh về hình phạt.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Nhật L, Nguyễn Thị H phạm tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ".
- Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b,s,n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Thị H 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ (từ ngày 16/12/2022 đến ngày 25/12/2022).
- Căn cứ khoản 1, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,3 Điều 54, Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Thị Nhật L 06 tháng 25 ngày tù. Nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/7/2023).
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 356 Bộ luật hình sự
Phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhật L 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bị cáo đã nộp tại biên lai số 0003511 ngày 29/8/2024.
Phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bị cáo đã nộp 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0003513 ngày 05/9/2024.
- Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 356 Bộ luật hình sự, điểm b,s,n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;
- 2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội các bị cáo Nguyễn Thị Nhật L, Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
8
Bản án số 45/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 45/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Hình sự Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Nhật L và đồng phạm phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
