TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/8/2024 V/v Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hữu Hưng. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Trình. |
| Ông Mai Văn Du. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, tp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 271/2024/TLST-HNGĐ Ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143 /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/7/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm: 1990. Địa chỉ: A P, quận L, TP .. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Đức H1, sinh năm: 1990. Địa chỉ: E T, phường H, quận C, TP .. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo Đơn khởi kiện, bản trình bày và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc H và ông Hoàng Đức H1 kết hôn từ năm 2013 theo Giấy chứng nhận kết hôn do UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng cấp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn và có gây gỗ do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, không tìm được tiếng nói chung. Nay bà Trần Thị Ngọc H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho bà Trần Thị Ngọc H được ly hôn với ông Hoàng Đức H1.
Về con chung: bà Trần Thị Ngọc H xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Thiên P, sinh ngày: 06/01/2014. Ly hôn, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Ông bà không có nợ ai và không ai nợ ông bà.
- Bị đơn ông Hoàng Đức H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: thống nhất với trình bày của bà Ngọc H về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn của ông bà. Ông H2 đồng ý ly hôn với bà H.
Về con chung: ông xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Thiên P, sinh ngày: 06/01/2014. Ly hôn, ông thống nhất giao cháu P cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Ông bà không có nợ ai và không ai nợ ông bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Đức H1, yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.
Bị đơn ông Hoàng Đức H1 hiện cư trú tại E T, phường H, quận C, TP . Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ có thẩm quyền giải quyết
[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Hoàng Đức H1 và bà Trần Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 và 228 BLTTDS, HĐXX xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung
[3] Về quan hệ hôn nhân:
[3.1] Bà Trần Thị Ngọc H và ông Hoàng Đức H1 tự nguyện kết hôn năm 2013, có Giấy đăng ký kết hôn do UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng cấp. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc H, HĐXX nhận thấy: sau khoảng thời gian sống chung, vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà không tìm được tiếng nói chung, thường hay cãi vả và xô xát. Ông Hoàng Đức H1 cũng có văn bản thống nhất việc ly hôn với bà H.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và ông bà đều có nguyện vọng ly hôn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Ngọc H và ông Hoàng Đức H1.
[4] Về con chung: Bà Trần Thị Ngọc H xác nhận vợ chồng có 01 con chung gồm: 01 con chung là cháu Hoàng Thiên P, sinh ngày: 06/01/2014. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Thiên P.
Xét yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc H thì thấy: Trong quá trình giải quyết, ông Hoàng Đức H1 có ý kiến trình bày thống nhất để bà Trần Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng Thiên P. Đồng thời, cháu P có văn bản trình bày ý kiến nghị được sống chung với bà Trần Thị Ngọc H sau khi bố mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo tính ổn định trong cuộc sống và quyền lợi về mọi mặt của cháu, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc H, giao cháu Hoàng Thiên P cho bà Trần Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hoàng Đức H1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
[6] Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28, 35, 39, 147, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc H đối với ông Hoàng Đức H1.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc H và ông Hoàng Đức H1 thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Thiên P, sinh ngày: 06/01/2014 cho bà Trần Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ông Hoàng Đức H1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001783 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà Trần Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.
- Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hưng |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: trần thị ngọc h và bđ: hoàng đức H
