Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/DS-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thì Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
  2. Bà Ngô Thị Lệ Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đực - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 25 và 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2022, về tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Minh X, sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Công T, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (Văn bản ủy quyền ngày 27/6/2022); Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1939. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Có mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Võ Thị N, sinh năm 1946 (Vợ ông Nguyễn Văn H);
    • 3.2. Ông Nguyễn Trung H1, sinh năm 1987 (Con ông Nguyễn Văn H);
    • 3.3. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 (Con ông Nguyễn Văn H). Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp Tháp; Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp cho bà Võ Thị N, ông Nguyễn Văn D: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1939. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 23/4/2024); Có mặt.

  5. Người làm chứng:
    • 4.1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1953 (Đã chết);
    • 4.2. Ông Trần Thiện B, sinh năm 1970. Địa chỉ ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 10 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Công T trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là gia đình ông Trần Minh X mua của ông Trần Văn T1 ngày 23/4/2007, phần đất thổ cư, chiều ngang 6,5m, chiều dài từ mí lộ xuống mé nước dưới sông, không biết chính xác diện tích, phía Đông giáp ông Nguyễn Văn H, phía Tây giáp ông Trần Thiện B, khi mua có làm giấy tay. Khi mua thì chưa nhận đất liền, đến năm 2013 thì gia đình ông X mới nhận đất, khi nhận đất thì có mời địa chính xã là ông Trần Văn H2 đến đo đạc, ông Trần Văn T1 là người chỉ ranh đất, có ông B ra xác định ranh đất. Lúc này ông T1 chưa giao đất cho ông H nên không có mời ông H ra chỉ ranh. Sau khi nhận đất thì gia đình ông X xây dựng nhà ở bằng bê tông kiên cố từ năm 2014 cho đến nay. Phần đất ông X mua của ông T1 là từ M2, M4, M11, M7, M8 trở về M2 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Ranh đất ông Xuân G với ông B là trụ đá mốc M2 do ông X và ông Trần Thiện B thống nhất ranh rồi chôn trụ đá kéo thẳng xuống gốc nhà ông B vị trí M8 làm ranh. Ranh đất giáp với ông H là do địa chính xã là ông H2 xác định kéo từ trụ đá M2 qua 6,5m, gia đình ông không chôn trụ đá mà đặt đường ống nước làm ranh kéo thẳng xuống gốc nhà của ông là mốc M7, chiều ngang phía sau là 6,5m từ M8 qua M7. Ông T1 cũng thống nhất ranh đất là ống nước gia đình ông đã đặt.

Năm 2020 thì ông Nguyễn Văn H mới nhận phần đất mua của ông T1, ông H làm hàng rào bằng lưới B40 từ M4 kéo xuống là 4m, ông H đã làm hàng rào và sử dụng ổn định. Đến năm 2022, gia đình ông X có chôn trụ đá ngay ống nước làm ranh là mốc M11, không biết lý do gì ông H nhỗ trụ đá của gia đình ông X và cho rằng đất ông H là tới mốc M3 là lấn qua đất của gia đình ông X lấn qua phần ống nước gia đình ông X đã đặt từ lâu, phần đất này là gia đình ông X chừa để làm lối đi xuống mé sông để chăn nuôi. Phần đất của ông H giáp đất của ông Trần Minh H3, giữa đất ông H với ông H3 là có chừa một lối ngang đi 1,5m. Đến năm 2022 thì họ thỏa thuận mở rộng lối đi ra 2m nên ông H đòi lấn qua đất của ông X 0,5m. Nên giữa gia đình ông X và ông H xảy ra tranh chấp. Ông H có nộp đơn tranh chấp ranh đất đến Ban N1, tại ban N1 hai bên hòa giải không thành nên chuyển lên Ủy ban nhân dân xã, sau đó ông X có nộp yêu cầu được sử dụng phần đất đã mua của ông T1. Tại phiên hòa giải ở xã ngày 16/8/2022, Ủy ban xã vận động phần tranh chấp là 0,5m, chia làm 2 mỗi bên là 0,25m, bên ông X không đồng ý vì sẽ lấn qua phần đất gia đình ông X đang sử dụng đi đường nước, còn bên ông H thì đồng ý nói là lấy qua được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu phần thiếu thì sẽ thương lượng với ông H3 cho qua đủ 4m, nhưng không có ghi vào biên bản.

Nay ông đại diện cho ông Trần Minh X yêu cầu xác định ranh đất giữa đất của ông Trần Minh X thuộc thửa 418 tờ bản đồ số 14 với đất ông Nguyễn Văn H là đường thẳng qua các mốc M4, M11, M7 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Ông không yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất phần đất ông X mua của ông T1 khi nào xác định được ranh đất thì ông tự đi đăng ký quyền sử dụng đất.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là gia đình ông mua của ông Trần Văn T1 ngày 10/5/2003 (âm lịch), phần đất chiều ngang 4m, chiều dài từ mí lộ xuống mé sông, không biết chính xác diện tích, phía dưới giáp đất ông H3 (không nhớ họ), phía trên giáp nhà ông T1, có làm giấy tay. Khi ông mua đất của ông T1 là ông T1 chưa chuyển nhượng nhà đất cho ông X. Ranh đất giữa đất của ông mua với đất ông T1 là vách tường nhà ông T1, đo xuống 4m và chôn trụ đá làm ranh với đất ông H3. Phần đất mua của ông T1 thì ông chưa có cất nhà chỉ để trồng chuối. Đến khoảng năm 2007 – 2008, thì ông T1 chuyển nhượng nhà cho ông X, ông X mua nhà ông T1 rồi xây dựng lại nhà mới trên nền nhà của nhà ông T1. Ranh đất giữa ông với ông X thì vẫn là vách tường nhà ông X nên giữa hai bên cũng không có tranh chấp hay chôn trụ đá. Sau khi ông X cất nhà được một thời gian thì ông có làm hàng rào lưới B40 ngang 4m làm ranh đất sát vách nhà ông X thì ông X không có ngăn cản hay tranh chấp gì. Đến năm 2022, con ông X là Trần Công T tự chôn trụ đá qua phần đất của ông khoảng 0,5m, còn việc ông X chôn ống nước qua phần đất ông khi nào thì ông không biết. Đến khi ông T chôn trụ đá qua phần đất của ông thì hai bên xảy ra tranh chấp. Phần nền nhà ông T1 chuyển nhượng cho ông X hiện nay vẫn còn y hiện trạng xây bó nền nhà cũ của ông T1, ông T1 cũng thống nhất là phần đất chuyển nhượng cho ông X là theo hiện trạng nhà cũ của ông T1. Hiện nay ở giữa nhà ông X và ông B còn một khoảng trống 0,7m cũng là bó nền nhà của ông T1 ngày xưa, ông X xây nhà chừa khoảng trống này rồi lại xác định ranh đất giữa ông X với ông B là trụ đá M2 để đo xuống 6,5m là lấn qua phần đất của ông là không đúng. Ông không thống nhất yêu cầu của ông X xác định ranh đất ông với của ông Trần Minh X là đường thẳng qua các mốc M4, M11, M7 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Ranh đất giữa ông với ông X là đoạn thẳng M3 kéo thẳng xuống M7, ông sẽ làm đơn yêu cầu phản tố yêu cầu ông X di dời đường ống nước trả lại ông phần đất ngang 0,7m, dài 28,3m, thuộc thửa 418, tờ bản đôg số 14.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D: Ông là cha của Nguyễn Thị Mỹ H4, Mỹ H4 đã tách hộ khẩu, không còn sống chung với gia đình từ lâu. Ông là con ruột ông H, ông thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Văn H, ông không trình bày gì thêm.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2023, người làm chứng ông Trần Văn T1 trình bày: Ông không có mâu thuẫn gì với nguyên đơn, bị đơn. Cách đây 10 năm, ông có chuyển nhượng đất cho ông Trần Minh X, chiều ngang 6,5m, dài từ lộ đến mé sông. Khi chuyển nhượng đất thì có nhà của ông trên đất, ông chỉ chuyển nhượng đất còn nhà thì ông di dời đi. Vị trí đất ông chuyển nhượng là phần đất giáp ranh với ông Trần Thiện B, đất ông chuyển nhượng cho ông X hiện trạng theo nền nhà cũ của ông hiện nay vẫn còn bó nền nhà cũ chiều dài là từ mốc M1 đến M9, chiều ngang từ M1 đến M3, khi giao đất ông có chỉ ranh cho ông X, ông đã giao đủ đất.

Trước khi chuyển nhượng đất cho ông X thì ông có chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn H trước chiều ngang 04m, dài từ lộ tới mé sông. Chuyển nhượng cho ông H vào năm 2003, khi chuyển nhượng đất cũng có chỉ ranh và giao đất đủ.

Nhưng nay ông X cho rằng ông H có lấn qua phần đất ông đã chuyển nhượng cho ông X là chưa đúng. Ông X cho rằng ranh đất không phải từ mí nền nhà cũ của ông mà lùi xuống cách nhà ông B là chưa đúng. Khoảng đất trống giữa nhà ông B với nhà ông X hiện tại là đất của ông chuyển nhượng cho ông X chứ không phải đất của ông B. Khi ông giao đất ông chỉ ranh chuyển nhượng là từ nền nhà cũ. Nếu ông B cho rằng khoảng đất trống giữa nhà ông B và ông X là đất của ông B thì ông B làm đơn kiện ông.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2023, người làm chứng ông Trần Thiện B trình bày: Ông không có mâu thuẫn gì với nguyên đơn, bị đơn. Ông với ông Trần Văn T1 là anh em chú bác họ. Nhà ông giáp với nhà ông T1. Cách đây hơn 10 năm thì ông T1 chuyển nhượng nền nhà cho ông Trần Minh X. Phần đất ông T1 chuyển nhượng cho ông Trần Minh X theo hiện trạng bó nền nhà của ông T1, hiện nay phần bó nền nhà này vẫn còn. Ranh đất của ông với ông T1 là bó nền nhà của ông T1. Khi ông T1 chuyển nhượng đất cho ông X thì ông có biết, khi ông X cất nhà thì ông cũng không có tranh chấp gì. Ông thống nhất phần đất ông T1 chuyển nhượng cho ông X là theo vị trí nền nhà cũ của ông T1. Ranh đất từ vị trí bó nền nhà của ông T1, theo ranh ông T1 xác định, ông không có tranh chấp gì với ông T1, không tranh chấp gì với ông X, ông H. Còn việc ông T1 giao đất cho ông X, ông H thiếu đủ như thế nào ông không biết, ông không liên quan.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Về nội dung: đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Trần Minh X với ông Trần Văn T1 là đường thẳng nối các mốc: từ M3 đến M7, thửa 418, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (Theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, điểm b khoản 2 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.
  2. Người làm chứng ông Trần Văn T1 đã chết, ông Trần Thiện B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, những người làm chứng đã có lời khai với Tòa án; việc vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 229 của BLTTDS.
  3. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Công T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất ông Trần Minh X với đất ông Nguyễn Văn H là đoạn thẳng nối qua các mốc M4, M11, M7 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của ông T là tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 5, khoản 1 Điều 244 của BLTTDS nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Về nội dung: Xét yêu cầu của ông Trần Minh X do ông Trần Công T đại diện theo ủy quyền yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất ông Trần Minh X với đất ông Nguyễn Văn H là đoạn thẳng nối qua các mốc M4, M11, M7 tương ứng một phần thửa 418, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (Theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H), là có không có căn cứ chấp nhận, vì:
  5. Nguồn gốc đất của ông Trần Minh X và ông Nguyễn Văn H là nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn T1, thuộc thửa 418, tờ bản đồ 14, đất tại xã P, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1 trình bày vào năm 2003, ông chuyển nhượng đất cho ông H phần đất chiều ngang 04m, dài từ lộ đến mé sông. Sau đó mới chuyển nhượng phần đất cho ông Trần Minh X phần đất chiều ngang 6,5m, dài từ lộ đến mé sông, chuyển nhượng phần đất theo hiện trạng nền nhà cũ của ông T1, hiện nay vẫn còn hiện trạng bó nền nhà chiều ngang M1 đến M3 là 6,5m, chiều dài từ M1 đến M9 là 34,4 m, ông đã chỉ ranh cho ông X, ông đã giao đủ đất. Ông X cho rằng ranh đất không phải từ mí nền nhà cũ của ông T1 mà lùi xuống cách nhà ông B 0,7m là chưa đúng, khoảng đất trống giữa nhà ông X với nhà ông B hiện tại là đất ông T1 chuyển nhượng cho ông X không phải của ông B. Đồng thời ông Trần Thiện B là người giáp ranh với đất ông X xác định phần đất ông T1 chuyển nhượng cho ông X là hiện trạng theo bó nền nhà của ông T1, phần bó nền này vẫn còn là ranh đất giữa ông B với ông T1. Khi ông T1 chuyển nhượng đất cho ông X thì ông có biết, khi ông X cất nhà thì ông cũng không có tranh chấp gì, ông thống nhất phần đất ông T1 chuyển nhượng cho ông X là theo vị trí nhà cũ của ông T1, ranh đất từ vị trí bó nền nhà của ông T1 xác định.
  6. Theo ông T là đại diện của nguyên đơn xác định ranh đất giữa đất ông X đang sử dụng với đất của ông B không đúng với lời trình bày của ông B, ông T1 mà xác định ranh đất là đoạn thẳng nối qua mốc M2, M8, theo sơ đồ đo đạc hiện trạng tranh chấp ngày 16/8/2023. Theo ranh đất ông T xác định thì giữa nhà ông X và nhà ông B cách một khoảng trống là 0,7m và mái nhà của ông X lấn qua một phần đất ông B. Ông T cho rằng ông chỉ gửi nhờ mái nhà qua đất ông B, khoảng đất trống giữa nhà ông B với nhà ông T là đất của ông B, ông B sử dụng để trồng cây. Nếu tính ranh đất giữa đất ông B với đất ông X là đoạn thẳng nối qua mốc M2, M8 như ông T xác định thì phần đất của ông X chiều ngang giáp lộ sẽ là 5,8m, thiếu 0,7m nên ông X yêu cầu xác định ranh đất qua phần đất ông H 0,7m để đủ 6,5m đã nhận chuyển nhượng từ ông T1. Tuy nhiên việc xác định ranh đất với ông B là mốc M2, M8 là do ông Xuân T2 xác định, tự chôn trụ đá rồi cho rằng phần đất nhận chuyển nhượng còn thiếu 0,7m. Ông T cho rằng khi ông chôn trụ đá tại mốc M2 là có địa chính xã lên đo xác định nhưng ông T không cung cấp được chứng cứ cũng như biên bản đo đạc. Bên cạnh đó, người chuyển nhượng là ông T1 (ông T1 là anh ruột của ông X) và người giáp ranh là ông B đều trình bày khoảng đất trống giữa nhà ông X và ông B là đất của ông T1 trước đây và sau này ông T1 chuyển nhượng cho ông X. Nên phần đất ông T1 đã chuyển nhượng cho ông X chiều ngang giáp lộ làng là từ M1 đến M3 là đã đủ 6,5m mà ông X nhận chuyển nhượng từ ông T1.
  7. Ông T cho rằng phần đất từ mốc M3 qua M4 đang tranh chấp với ông H, gia đình ông đã sử dụng từ trước đến nay để đặt đường ống nước và chiều ngang tính từ mốc M2 qua M4 thì mới đủ chiều ngang 6,5m mà ông X nhận chuyển nhượng từ ông T1. Nhưng việc này chỉ do đơn phương ông T tự xác định, ông H không thừa nhận ranh đất giữa ông H với ông X là mốc M4. Ông H xác định phần đất ông H nhận chuyển nhượng của ông T1 có chiều ngang giáp lộ làng là 4m, tính từ vách nhà ông T1 trước đây hiện nay là nhà ông X là mốc M3 trở về M5. Việc ông X đặt ống nước qua phần đất ông H thì ông H không biết, khi ông X cắm trụ đá làm ranh đất lấn qua đất ông H thì ông H đã nhỗ bỏ và hai bên xảy ra tranh chấp.
  8. Đối với ranh đất chiều ngang phía sau, nguyên đơn, bị đơn thống nhất ranh đất là mốc M7.
  9. Phần đất ông X và ông H đang sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa xác định ranh giới rõ ràng, nên Hội đồng xét xử xác định lại ranh đất cho phù hợp với việc chuyển nhượng và hiện trạng sử dụng đất giữa hai bên. Ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Trần Minh X đang quản lý sử dụng tại thửa 418 với đất của ông Nguyễn Văn H tại thửa 418, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp là đoạn thẳng nối từ mốc M3 đến M7. (Theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H). Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất, tài sản bên nào lấn chiếm ranh đất phải bị di dời theo quy định của pháp luật.
  10. Đối với ranh đất giữa ông B, ông X, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu xác định đồng thời không yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất của ông X nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  11. Đối với yêu cầu của ông T yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ “Tờ sang nhượng đất” giữa ông Trần Minh H3 với ông Trần Văn T1, nội dung ông H3 có chuyển nhượng cho ông T1 phần đất chiều ngang 10,5m và hiện nay tờ sang nhượng đất này do bị đơn Nguyễn Văn H giữ. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thu thập tài liệu chứng cứ này là không cần thiết vì theo nội dung tờ sang nhượng này (ông T có nộp bản phô tô cho Tòa án) thể hiện ông T1 nhận chuyển nhượng đất từ ông H3 chiều ngang 10,5m, sau đó ông T1 chuyển nhượng lại cho ông H chiều ngang 4m và chuyển nhượng cho ông X chiều ngang 6,5m là đã phù hợp với phần đất ông T1 nhận chuyển nhượng từ ông H3. Giữa ông T1, ông H3 không có tranh chấp gì và tại phiên tòa ông H trình bày không có giữ tờ sang nhượng này chỉ có giữ tờ sang nhượng đất giữa ông T1 với ông H.
  12. Đối với yêu cầu được đối chất với người làm chứng và yêu cầu hủy lời khai người làm chứng của ông Trần Công T là không có căn cứ chấp nhận, vì: Ông T1 đã chết, ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai trực tiếp với Tòa án, tại phiên tòa đã công bố lời khai của người làm chứng nên việc vắng mặt của người làm chứng không gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Đồng thời khi Tòa án tiến hành lấy lời khai người làm chứng đã giải thích quyền, nghĩa vụ của người làm chứng. Người làm chứng cam đoan lời khai của mình, khai báo trung thực tình tiết mình biết được, biên bản lấy lời khai có sự chứng kiến xác nhận của Chính quyền địa phương. Ông T cho rằng việc lấy lời khai của người làm chứng không có sự chứng kiến của ông T, nội dung bất lợi cho ông nên yêu cầu hủy lời khai người làm chứng là không có căn cứ chấp nhận.
  13. Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ như Hội đồng xét xử đã nhận định nên chấp nhận.
  14. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng cộng 2.885.000 đồng, ông X đã tạm ứng chi phí và đã chi xong. Do yêu cầu của ông X không được chấp nhận nên phải chịu chi phí này theo khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  15. Về án phí: Ông Trần Minh X phải chịu án phí 300.000 đồng đối yêu cầu không được chấp nhận, ông X là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí, án phí nên được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, 26, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 157, 158, 165, 166, 229 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 3, 5, 101, 166, 170 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 12, 26 và 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh X về việc yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất ông Trần Minh X với đất ông Nguyễn Văn H là đoạn thẳng nối qua các mốc M4, M11, M7 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H.
  2. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Trần Minh X đang quản lý, sử dụng tại thửa 418 với đất của ông Nguyễn Văn H đang quản lý, sử dụng tại thửa 418, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, là đoạn thẳng nối từ mốc M3 đến mốc M7. (Theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H). Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất, tài sản bên nào lấn chiếm ranh đất phải bị di dời theo quy định của pháp luật.

    (Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/12/2022, 17/3/2023, 16/8/2023, Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 02/12/2022, 17/3/2023, 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H)

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, đương sự có quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định chung.

  3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Trần Minh X phải chịu 2.885.000 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn đồng), đã nộp chi xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Minh X được miễn tiền án phí.
  5. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thì Trang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ngô Thị Lệ Nga - Nguyễn Tuấn Lam

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thì Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 45/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Xuân yêu cầu xác định ranh đất giữa đất của ông Trần Minh Xuân thuộc thửa 418 tờ bản đồ số 14 với đất ông Nguyễn Văn Hiếu là đường thẳng qua các mốc M4, M11, M7 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 16/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hồng Ngự. Ông không yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất phần đất ông Xuân mua của ông Tách khi nào xác định được ranh đất thì ông tự đi đăng ký quyền sử dụng đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger