Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 45/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng

đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đính;
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Phan Đình Xiềng
    2. Bà Nguyễn Thị Mý
  • Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai;
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung – Kiểm sát viên;

Trong ngày 30/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-DS, ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N; địa chỉ: thôn I, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Minh H; địa chỉ: tổ dân phố F, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai (Văn bản ủy quyền ngày 10 tháng 4 năm 2023). Có mặt.

- Bị đơn: Bà Lê Thị V; địa chỉ: tổ E, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người đại diện ủy quyền: Ông Lê Hồng H1; địa chỉ: A P, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Văn bản uỷ quyền ngày 03 tháng 4 năm 2023). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn là ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N cùng người đại diện theo uỷ quyền trình bày: Vào năm 2013 ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đinh Xuân T thửa đất có diện tích 256m² tại thửa số 270c1, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Khi nhận chuyển nhượng, ông Q và bà N cùng với cán bộ địa chính xã I trực tiếp đến đo đạc và cắm mốc giới, bàn giao trên thực địa với tứ cận cụ thể như sau: Phía Đông giáp thửa đất số 270b1 là đất của bà Lê Thị Văn d 30m, phía Tây giáp với thửa đất số 270c3 của ông Nguyễn Văn H2 dài 27,48m, phía Nam giáp đường dài 10m và phía Bắc giáp với thửa đất 270 (hiện nay do ông L sử dụng) dài 10,5m. Khi nhận chuyển nhượng thì khu vực đó còn trống chưa có ai xây dựng gì nên ông Q và bà N chỉ chôn 04 cọc bê tông ở bốn góc của thửa đất để làm ranh giới. Vào năm 2021, khi ông Q đi kiểm tra đất thì phát hiện phần đất phía Đông đã bị chủ sử dụng đất liền kề là bà Lê Thị Văn n cọc mốc, xây dựng hàng rào, và nhà quán lấn chiếm gần một nửa diện tích đất. Ông Q yêu cầu họ dừng ngay lại việc xây dựng nhưng họ không chấp nhận, họ cho rằng họ đã có giấy phép xây dựng và xây trên đất của họ, nếu có lấn thì sau này họ dỡ bỏ trả lại. Ông Q đã làm đơn khiếu nại lên Ủy ban nhân dân xã I để hoà giải nhưng họ vẫn cố tình không đến. Do vậy, ông Q và bà N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Lê Thị V phải tháo dỡ phần công trình xây dựng là hàng rào và nhà quán để trả lại cho ông Q và bà N toàn bộ diện tích đất lấn chiếm thuộc quyền sử dụng đất của ông Q, bà N có diện tích 101,5m² tại thửa đất số 270c1, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai với các tứ cận: phía Đông giáp đất bà Lê Thị Văn d 26,0m, phía Tây giáp phần đất còn lại của ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N dài 25,08m, phía Nam giáp đường đi, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3c) rộng 4,21m và phía Bắc giáp đất ông L, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3a) rộng 3,89m. Buộc bà Lê Thị V phải trả lại cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

2. Bị đơn là bà Lê Thị V cùng người đại diện theo uỷ quyền trình bày: Nguồn gốc thửa số 270b, tờ bản đồ số 35, địa chỉ làng J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai do bà Lê Thị Văn n1 chuyển nhượng của ông Nay B và bà Rơ Mah H3 vào ngày 15/01/2010. Ngày 11/02/2010 bà V được UBND huyện I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 517281. Ngày 05/9/2010 bà V được chuyển đổi 300m² trong tổng số 931m² đất trồng cây lâu năm thành đất ở nông thôn. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, phía Đông của thửa đất giáp với đường đất đi vào làng J dài 34m, đường đất khi đó rộng khoảng hơn 03m, khoảng năm 2019 thì đường đất được Nhà nước làm bằng đường nhựa như hiện nay; phía Tây của thửa đất giáp với đất ông Q là 27m; phía Nam đường đi dài 30m; phía Bắc giáp đất ông L dài 31m. Năm 2019 bà V tiến hành xây nhà và tường rào bao quanh. Trước khi xây dựng thì bà V có lên báo với chính quyền xã I, báo với phòng Hạ tầng kinh tế huyện nhưng họ nói là đất bà V là đất ở nông thôn nên cứ về xây dựng, nếu sau này có vấn đề gì thì họ chịu trách nhiệm. Do đó bà V làm mà không cần giấy phép xây dựng. Trong quá trình làm thì bà V có đề nghị chính quyền địa phương xuống đo đạc mốc giới nhưng họ không đo đạc, nên bà V căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đo đủ 30m chiều rộng mặt đường để làm. Khi làm nhà và xây tường rào thì ông Q có biết. Việc quy hoạch làm đường như thế nào bà V không biết. Nhưng khi bà Văn nhận chuyển nhượng đã thoả thuận chừa ra một phần diện tích đất của đường nên mới nhận chuyển nhượng. Bà Văn c làm nhà và xây hàng rào trong phạm vi đất của bà V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc nhà nước quy hoạch chỉ giới làm đường chồng lên đất bà V nếu có thì do lỗi của nhà nước chứ bà V không có lỗi. Bà V không lấn chiếm đất của ông Q, do đó bà V không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q.

3. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập các tài liệu, chứng cứ: 01 bản chính trích lục thửa đất; 01bản chụp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên bà Lê Thị V; 01 bản sao căn cước công dân; 01 bản sao công văn số 34/UBND của UBND xã I; 01 bản sao Giấy mời ngày 26/9/2022 của UBND xã I; 01 bản sao Giấy mời ngày 19/9/2022 của UBND xã I; 01 bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với số BS 525737; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với số BI 710776; 01 bản chính Giấy xác nhận; 01 bản chính Giấy ủy quyền lập ngày 10/4/2023; 01 bản chính Hợp đồng ủy quyền lập ngày 03/4/2023; 01 bản tự khai ngày 06/4/2023; Biên bản lấy lời khai của ông Hoàng Đức Q ngày 18/8/2023; Biên bản lấy lời khai của bà Lê Thị V ngày 04/8/2023; Bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 270c1, tờ bản đồ số 35 theo giấy CNQSD đất số BS 525737 do UBND huyện I cấp ngày 23/01/2011 cho ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N; Bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 270b, tờ bản đồ số 35 theo giấy CNQSD đất số BA 517281 do UBND huyện I cấp ngày 11/02/2010 cho bà Lê Thị V; Bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 270c2, tờ bản đồ số 35 theo giấy CNQSD đất số BI 710776 do UBND huyện I cấp ngày 02/12/2012 cho ông Nguyễn Văn H2 và bà Lê Thị N1; Hợp đồng kinh tế số 01/2023/HĐKT-TV ngày 26/5/2023; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/6/2023; Biên bản định giá tài sản ngày 02/6/2023; Biên bản xác minh ngày 01/11/2023; Quyết định phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung và xây dựng nông thôn mới xã I đến năm 2030; Hồ sơ dự toán công trình đường giao thông từ Trung tâm xã đi làng J; Biên bản làm việc ngày 28/7/2023; Biên bản làm việc ngày 24/7/2023.

4. Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án; Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải tháo dỡ phần công trình xây dựng là hàng rào và nhà để trả lại cho nguyên đơn toàn bộ diện tích đất lấn chiếm thuộc quyền sử dụng đất của ông Q, bà N có diện tích 101,5m² tại thửa đất số 270c1, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai được quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung: Theo hồ sơ địa chính do Ủy ban nhân dân huyện I, Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh G – Chi nhánh huyện I và Ủy ban nhân dân xã I cung cấp, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/6/2023. Đối chiếu hiện trạng thửa đất mà ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N đang sử dụng với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 525737 được Ủy ban nhân dân huyện I cấp ngày 23/01/2014 cho ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N, Hội đồng xét xử thấy rằng, thửa đất thửa số 270c1, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai có tứ cận: Đông giáp đất bà Lê Thị V đang sử dụng (giáp phần đất đang tranh chấp), có chiều dài là 26,91m (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện chiều dài, theo trích lục đất của bà Lê Thị V có chiều dài là 27m nên thiếu 0,09m); Tây giáp thửa 270c3 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 525737 được UBND huyện I cấp ngày 23/01/2014), có chiều dài 24,74m (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện chiều dài); Nam giáp đường quy hoạch công viên rộng 18,5m, có chiều dài là 5,78m (thiếu 4.22m); Bắc giáp thửa đất 270 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 525737 được UBND huyện I cấp ngày 23/01/2014), có chiều dài là 6,62m (thiếu 3,38m). Tổng diện tích: 155m² (trong đó có 146,0 m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 06,0m² và 03,0 m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Hiện trạng thửa đất bà Lê Thị V đang sử dụng (bao gồm cả phần đất tranh chấp) với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 517281 được Ủy ban nhân dân huyện I cấp ngày 11/02/2010 cho bà Lê Thị V. Hội đồng xét xử thấy rằng, thửa đất số 270b, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai có tứ cận: Đông giáp đường nhựa hiện trạng rộng 11,5m, có chiều dài là 33,72m (thiếu 0,28m); Tây giáp đất ông Hoàng Đức Q, có chiều dài là 26,91m (thiếu 0,09m); Nam giáp đường quy hoạch công viên rộng 18,5m, có chiều dài là 4,22m + 8,49m + 17,43m (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện chiều dài); Bắc giáp thửa đất 270 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 525737 được UBND huyện I cấp ngày 23/01/2014), có chiều dài là 3,88m +26,86m (thiếu 0,26m). Tổng diện tích: 912,2m².

Xác định nguyên nhân đất của ông Q và bà N bị thiếu, tại Biên bản làm việc ngày 24/7/2023, Giấy xác nhận ngày 25/8/2023 (Bút lục số 222 và 243) thể hiện giữa thửa đất của ông Q, bà X giáp ranh với ông Nguyễn Văn H2, bà Phan Thị N2 và đất của ông Q, bà X giáp ranh với ông Lê Quang L1 đều có ranh giới đã được các bên sử dụng ổn định là hàng rào, không có tranh chấp. Biên bản làm việc ngày 28/7/2023 và lồng ghép hiện trạng sử dụng đất với bản đồ địa chính (Bút lục số 223 - 224) thể hiện thửa đất số 270b, tờ bản đồ số 35 xã I theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/02/2010 cho bà Lê Thị V có tổng diện tích là 931m², phía Đông của thửa đất giáp với đường (rộng 03m). Ngày 25/9/2018 Ủy ban nhân dân huyện I ban hành Quyết định số 1685/QĐ-UBND về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung và xây dựng nông thôn mới xã I đến năm 2030, quy hoạch con đường đất trên rộng chỉ giới là 11,5m (từ tim đường vào là 5,75m). Ngày 11/3/2019 Ủy ban nhân dân xã I thi công đường nhựa trên cơ sở đường đất trước đó hiện trạng rộng 03m và đưa vào sử dụng từ ngày 22/4/2019 đến nay. Năm 2020, bà V xây nhà và hàng rào đã tự dịch chuyển mốc giới thửa đất 270b theo ranh giới quy hoạch tim đường hiện trạng vào hướng Đông - Tây dẫn đến tịnh tiến mốc giới, ranh giới sử dụng thực tế qua thửa đất số 270c1 kích thước phía Nam dài 4,22m, phía Bắc dài 3,88m. Lời khai của phía bà V cũng khẳng định tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất thì phía Đông giáp đường đất rộng khoảng hơn 03m, khoảng năm 2019 Nhà nước làm đường nhựa như hiện nay. Khi xây dựng nhà và hàng rào thì bà V căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đo đủ 30m chiều rộng mặt đường để làm. Việc quy hoạch làm đường bà V không biết.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bà V khi nhận chuyển nhượng đất thì phía Đông của thửa đất giáp con đường rộng 03m, nhưng khi xây dựng nhà, hàng rào thì con đường nói trên đã được quy hoạch mở rộng chỉ giới là 11,5m (từ tim đường vào là 5,75m) dẫn đến việc bà V đo đạc lại đất của mình theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lấy mốc là chỉ giới của con đường đã xây dựng lấn chiếm qua ranh giới đất của ông Q và bà N. Phần diện tích đất lấn chiếm này được xác định có diện tích 101,5m² tại thửa đất số 270c1, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai với các tứ cận: phía Đông giáp đất bà Lê Thị Văn d 26,0m, phía Tây giáp phần đất còn lại của ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N dài 25,08m, phía Nam giáp đường đi, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3c) rộng 4,21m và phía Bắc giáp đất ông L1, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3a) rộng 3,89m. Phần đất này được định giá là 300.000.000 đồng/m ngang x 4,21m = 1.263.000.000 đồng. Tài sản trên phần đất này bao gồm: Công trình xây dựng là Nhà ở cấp 4, có tô trát, không có sê nô mặt trước, móng xây đá, tường xây gạch, mái lợp ngói xi măng, nền gạch bát tràng; Mái hiên lợp tôn, khung sắt, trụ sắt tròn phi 60mm, phía dưới lát gạch bát tràng; T1 rào móng xây đá hộc, tường xây gạch Block bê tông rỗng, không tô trát, dày 15cm, trụ 20cm x 20cm, chiều cao bình quân của tường và trụ là 2,25m

[3] Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 170 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013, buộc bà Lê Thị V phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng là nhà ở cấp 4, mái hiên, hàng rào để trả lại cho Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N phần đất lấn chiếm có diện tích 101,5m² tại thửa đất số 270c1, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai với các tứ cận: phía Đông giáp đất bà Lê Thị Văn d 26,0m, phía Tây giáp phần đất còn lại của ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N dài 25,08m, phía Nam giáp đường đi, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3c) rộng 4,21m và phía Bắc giáp đất ông L1, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3a) rộng 3,89m.

[4] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 157, 164 của Bộ luật Tố tụng Dân sự buộc bà Lê Thị V phải hoàn trả cho ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 11.867.275 đồng đồng.

[5] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N.

Buộc bà Lê Thị V phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng là Nhà ở cấp 4, có tô trát, không có sê nô mặt trước, móng xây đá, tường xây gạch, mái lợp ngói xi măng, nền gạch bát tràng; Mái hiên lợp tôn, khung sắt, trụ sắt tròn phi 60mm, phía dưới lát gạch bát tràng; T1 rào móng xây đá hộc, tường xây gạch Block bê tông rỗng, không tô trát, dày 15cm, trụ 20cm x 20cm, chiều cao bình quân của tường và trụ là 2,25m để trả lại cho ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N toàn bộ phần đất lấn chiếm có diện tích 101,5m² tại thửa đất số 270c1, tờ bản đồ số 35 xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai với các tứ cận: phía Đông giáp đất bà Lê Thị Văn d 26,0m, phía Tây giáp phần đất còn lại của ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N dài 25,08m, phía Nam giáp đường đi, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3c) rộng 4,21m và phía Bắc giáp đất ông L1, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ký hiệu 3a) rộng 3,89m. (Phần đất lấn chiếm được ký hiệu là 3b theo sơ đồ lồng ghép hiện trạng sử dụng đất với bản đồ địa chính giữa ông Hoàng Đức Q, bà Trần Thị Xuân N với bà Lê Thị V).

2. Buộc bà Lê thị V1 phải trả lại cho ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N toàn bộ số tiền chi phí đo đạc là 6.367.275 đồng (sáu triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng), chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.700.000 đồng (ba triêui bảy trăm nghìn đồng) và chi phí định giá tài sản là 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng), tổng cộng là 11.867.275 đồng ( mười một triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự

3. Buộc bà Lê Thị V phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 49.890.000 đồng (bốn mươi chín triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng). Trả lại cho ông Hoàng Đức Q và bà Trần Thị Xuân N toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0008833 ngày 22/3/2023 và 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 00009016 ngày 08/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Chi cục THADS huyện Ia Grai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 45/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trả lại đất lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger